舟渡国際法律事務所

Bị điều tra về hành vi sử dụng chất kích thích (điều 41-3): giám định nước tiểu và cách bào chữa

お問い合わせはこちら

Bị điều tra về hành vi sử dụng chất kích thích (điều 41-3): giám định nước tiểu và cách bào chữa

Bị điều tra về hành vi sử dụng chất kích thích (điều 41-3): giám định nước tiểu và cách bào chữa

2026/08/13

Trong các vụ tự sử dụng chất kích thích, thủ tục nhiều khi tiến triển mà không có vật nào bị thu giữ, chỉ dựa vào một kết quả giám định nước tiểu. Với đương sự, ngày tháng trôi qua trong cảm giác không rõ điều gì đã được chứng minh và chứng minh tới đâu, để rồi nhận ra mình đã bị truy tố. Với người nước ngoài, song song với số phận của trách nhiệm hình sự còn là bài toán giữ tư cách lưu trú. Bài viết này trình bày điều luật và mức hình phạt của tội sử dụng, tính chất của chứng cứ là giám định nước tiểu, cùng ảnh hưởng tới tư cách lưu trú, từ góc nhìn thực tiễn.

Những điểm chính

  • Hành vi sử dụng chất kích thích bị quy định tại Luật kiểm soát chất kích thích điều 41-3 khoản 1 mục 1 với mức giam giữ tới 10 năm.
  • Theo thống kê năm 2025 của Cơ quan Cảnh sát quốc gia, trong các vụ chất kích thích, số người bị bắt giữ do sử dụng là 3.742 người và tỷ lệ tái phạm là 64,6%.
  • Trong các vụ tự sử dụng, giám định nước tiểu trên thực tế là chứng cứ khách quan duy nhất, nên thủ tục lấy mẫu và tính đồng nhất của mẫu vật là đối tượng xem xét.
  • Bị kết án có tội thì thuộc căn cứ trục xuất theo Luật quản lý xuất nhập cảnh điều 24 mục 4 điểm チ, và mức nặng nhẹ của hình phạt không phải là điều kiện.
  • Sau khi bị trục xuất, căn cứ từ chối nhập cảnh theo điều 5 khoản 1 mục 5 vẫn còn và không có mốc thời hạn.

Hành vi sử dụng chất kích thích bị xử theo điều nào và mức phạt bao nhiêu?

Về hành vi sử dụng chất kích thích, Luật kiểm soát chất kích thích (覚醒剤取締法) điều 41-3 khoản 1 mục 1 quy định mức giam giữ kōkinkei (拘禁刑) tới 10 năm. Trường hợp có mục đích thu lợi (営利目的) thì thành giam giữ có thời hạn từ 1 năm trở lên, kèm theo khoản tiền phạt tới 5 triệu yên.

Điều 41-2 khoản 1 của cùng luật, quy định hành vi tàng trữ, chuyển giao, nhận, cũng có mức giam giữ tới 10 năm; như vậy sử dụng và tàng trữ được đặt ở cùng một khung hình phạt.

Theo tài liệu Tình hình tội phạm có tổ chức năm 2025 (bản số liệu xác định) của Cơ quan Cảnh sát quốc gia, số người bị bắt giữ trong các vụ chất kích thích năm 2025 phân theo dạng hành vi là: sử dụng 3.742 người, tàng trữ 2.030 người, chuyển giao 211 người, nhập lậu 123 người. Có thể thấy sử dụng là dạng chiếm số lượng nhiều nhất.

Nước tiểu dương tính rồi thì không còn cách nào tranh luận nữa sao?

Nhiều người tiếp nhận sự việc theo cách đó, nhưng về mặt pháp lý, việc tồn tại một kết quả giám định và việc tội phạm đã được chứng minh là hai chuyện khác nhau. Chúng tôi không nói rằng lúc nào cũng có dư địa tranh luận, nhưng những điểm cần xem xét thì có nhiều.

Trước hết là câu hỏi nước tiểu đã được lấy như thế nào. Nếu được coi là nộp tự nguyện thì việc nộp ấy có thực sự tự nguyện hay không. Nếu là lấy mẫu cưỡng chế thì các điều kiện của lệnh toà đã được thoả mãn chưa. Tiếp đó là vấn đề đồng nhất: mẫu đã lấy và mẫu được đưa đi giám định có phải là một hay không, quá trình bảo quản và bàn giao có được hồ sơ ghi lại đầy đủ hay không. Sau nữa là vấn đề sức chứng minh: phương pháp và kết quả giám định chứng minh được tới đâu.

Cũng có những vụ mà tính hợp pháp của đầu mối dẫn tới việc lấy mẫu trở thành vấn đề. Chúng tôi không thể khẳng định đúng sai cho một vụ việc cụ thể, nhưng chỉ vì có một bản kết luận giám định thì không có lý do gì để dừng việc xem xét.

  • Việc lấy mẫu có thể coi là tự nguyện hay không, và diễn biến đó được ghi lại ra sao
  • Nếu là lấy mẫu cưỡng chế thì các điều kiện của lệnh toà đã được thoả mãn chưa
  • Tính đồng nhất giữa mẫu đã lấy và mẫu được giám định, chuỗi bảo quản có được ghi nhận không
  • Đầu mối dẫn tới việc lấy mẫu (hỏi thăm chức vụ, kiểm tra đồ mang theo, mời về đồn tự nguyện) có vấn đề gì không

Vấn đề đã sử dụng khi nào và ở đâu

Cái khó riêng của các vụ tự sử dụng là việc xác định thời gian và địa điểm của hành vi. Giám định nước tiểu cho thấy thành phần đã tồn tại trong cơ thể, chứ không trực tiếp cho biết đã đưa vào cơ thể khi nào và ở đâu.

Vì thế, thời điểm và nơi sử dụng được bổ khuyết bằng lời khai, và ở đây cần hết sức thận trọng. Có trường hợp ký ức còn mơ hồ nhưng ngày giờ dần được chốt lại theo dòng chảy của buổi hỏi cung; và khi qua phiên dịch, một cách nói mơ hồ như chắc là khoảng thời gian đó có thể bị thay bằng một câu khẳng định trong biên bản tiếng Nhật.

Một khi đã ký vào biên bản có nội dung khác với ký ức của mình, việc sửa lại về sau là không dễ. Cách đối diện với hoạt động hỏi cung là điều cần bàn bạc cụ thể với luật sư bào chữa (弁護人) ngay ở giai đoạn này.

Trường hợp đã từng có vụ việc cùng loại

Theo tài liệu nêu trên của Cơ quan Cảnh sát quốc gia, tỷ lệ tái phạm trong các vụ chất kích thích năm 2025 là 64,6%. Đây là dạng vụ việc mà phần lớn là những người đã có tiền án cùng loại, và điều này được cho là ảnh hưởng tới các phán đoán về xử lý và lượng hình.

Khi đã có tiền án, đặc biệt là các vụ xảy ra trong thời gian thử thách của án treo, triển vọng của thủ tục hình sự sẽ khắt khe hơn. Và với thân chủ là người nước ngoài, việc có phải chấp hành hình phạt thực tế hay không, nếu có thì thời hạn bao nhiêu, liên hệ trực tiếp tới khuôn khổ xét giấy phép lưu trú đặc biệt (在留特別許可) nói ở phần sau.

Mặt khác, việc từng có tiền án cũng là dấu hiệu cho thấy phía sau có thể là một vấn đề sức khoẻ, tức tình trạng lệ thuộc. Đây không phải là chuyện giải quyết được bằng cách trách móc đương sự. Việc bắt đầu sớm, trong khả năng cho phép, các nỗ lực như thăm khám tại cơ sở y tế, tham gia chương trình điều trị, rà soát lại môi trường sống, đều có ý nghĩa cả trong thủ tục hình sự lẫn thủ tục nhập cư sau đó.

Ảnh hưởng tới tư cách lưu trú

Luật quản lý xuất nhập cảnh (入管法) điều 24 mục 4 điểm チ (chi) liệt kê vào căn cứ trục xuất (退去強制) những người bị kết án có tội do vi phạm các văn bản được nêu, trong đó có Luật kiểm soát chất kích thích. Dù chỉ là vụ sử dụng, dù không có vật nào bị thu giữ, một khi đã có sự kiện bị kết án có tội thì không thể thoát khỏi việc áp dụng điều khoản này, bởi nó không giới hạn loại hình phạt và cũng không có câu trừ loại bỏ trường hợp được hưởng án treo.

Ngoài ra, quy định này không phân biệt loại tư cách lưu trú (在留資格). Người mang các tư cách thuộc Bảng 2 (別表第二) như vĩnh trú (永住者) hay định trú (定住者) cũng bị đặt lên cùng một sân với người mang tư cách thuộc Bảng 1 (別表第一).

Sau khi việc trục xuất được thực hiện, căn cứ từ chối nhập cảnh (上陸拒否) theo điều 5 khoản 1 mục 5 của Luật quản lý xuất nhập cảnh vẫn còn. Việc từ chối nhập cảnh dựa trên tiền sử bị trục xuất tại mục 9 cùng khoản có ấn định các mốc 1 năm, 5 năm, 10 năm, nhưng mục 5 không có loại mốc thời hạn nào như vậy. Đây là nội dung chúng tôi luôn giải thích ngay từ giai đoạn đầu của vụ việc.

Dựng ba tuyến phòng thủ trong vụ án về hành vi sử dụng như thế nào?

Với án ma tuý của người nước ngoài, văn phòng chúng tôi thiết kế phòng thủ theo ba lớp. Trong các vụ về hành vi sử dụng, việc cần làm ở mỗi lớp được phân định rất rõ.

Tuyến phòng thủ thứ nhất là giành quyết định không khởi tố (不起訴処分) trước khi bị truy tố. Chúng tôi rà soát kỹ tính hợp pháp của thủ tục lấy mẫu, tính đồng nhất của mẫu giám định, việc xác định thời điểm sử dụng, và nếu có điểm tranh luận thì trình bày cụ thể với kiểm sát viên. Chừng nào điểm チ còn lấy bản án có tội làm điều kiện thì việc chặn được ở đây sẽ tránh được ảnh hưởng tới tư cách lưu trú ngay từ gốc. Phương án lấy việc giành án treo tại phiên toà làm mục tiêu cuối cùng là đặt sai mục tiêu nếu nhìn từ góc độ lưu trú.

Tuyến phòng thủ thứ hai là tranh luận chính về việc có thuộc căn cứ trục xuất hay không trong thủ tục trục xuất. Tuyến thứ ba là giấy phép lưu trú đặc biệt. Trong các yếu tố mà điều 50 khoản 5 Luật quản lý xuất nhập cảnh đã luật định, với các vụ về hành vi sử dụng thì hạnh kiểm và sự việc đã trở thành lý do trục xuất là hai trở ngại lớn nhất, nên chúng tôi tích luỹ thành tài liệu các yếu tố như việc duy trì điều trị, sự giám sát của gia đình, sự ổn định về công việc và chỗ ở. Theo khoản 3 cùng điều, sau khi lệnh trục xuất được ban hành thì không thể nộp đơn xin giấy phép lưu trú đặc biệt, nên việc quản lý trình tự thủ tục và thời gian là không thể thiếu.

Vụ việc đã giải quyết và cơ chế tiếp nhận tư vấn

Về việc ứng phó với hoạt động hỏi cung và các vụ liên quan tới lưu trú, chúng tôi xin giới thiệu hai vụ trong phạm vi có thể công bố. Các vụ việc đã giải quyết trong quá khứ đều dựa trên tình tiết riêng của từng vụ và không bảo đảm sẽ có kết quả tương tự.

Luật sư Matsumura Daisuke trực tiếp phụ trách toàn bộ quá trình, từ buổi tiếp xúc đầu tiên trong trại tạm giữ cho tới khi kết thúc tranh tụng tại phiên toà. Trong các vụ về hành vi sử dụng, việc lời khai được hình thành ra sao qua những buổi hỏi cung lặp đi lặp lại sẽ chi phối kết luận, nên mấu chốt là gặp mặt nhiều lần để xác nhận phương án. Đối với tiếng Trung, văn phòng có phiên dịch chuyên trách thường trực, am hiểu các vụ án của người nước ngoài; khác với phiên dịch do cơ quan điều tra chỉ định, đây là người làm việc vì chính thân chủ và có thể sử dụng trong toàn bộ thủ tục hình sự. Với các ngôn ngữ khác, trong đó có tiếng Việt, chúng tôi bố trí phiên dịch tuỳ theo từng vụ việc. Về tư cách lưu trú sau khi kết thúc thủ tục hình sự, chúng tôi xử lý cùng hành chính thư sĩ hợp tác với văn phòng.

  • Trong vụ việc một người bị coi là kẻ nhận tiền của đường dây lừa đảo đặc biệt và bị bắt lại nhiều lần, nhờ kiên trì ứng phó với hoạt động hỏi cung, phản đối những cách hỏi cung không thoả đáng và liên tục đưa ra lập luận cùng chứng cứ, toàn bộ các vụ đều nhận được quyết định không khởi tố.
  • Trong vụ việc một thân chủ mất tư cách lưu trú rồi bị bắt, truy tố vì cư trú bất hợp pháp, chúng tôi đã đàm phán với cơ quan chức năng để việc kết hôn và nhận con được công nhận, thu thập chứng cứ có lợi trong hoàn cảnh gần như không có giấy tờ công do nước mà thân chủ mang quốc tịch cấp, và qua phân tích các vụ được cơ quan xuất nhập cảnh cấp phép trước đây đã giành được giấy phép lưu trú đặc biệt chỉ với một lần nộp đơn.

Các vụ tự sử dụng nhìn bề ngoài có vẻ đơn giản, nên rất dễ bị vội kết luận rằng không còn gì để tranh luận. Nhưng nếu lần theo cẩn thận việc chứng cứ đã được tạo ra như thế nào và chứng minh được tới đâu, thì thường vẫn còn những điểm đáng xem xét. Và với thân chủ là người nước ngoài, việc xem xét ấy có thể là lối vào duy nhất để giữ được tư cách lưu trú. Xin đừng một mình đưa ra kết luận, hãy dành cho mình một cơ hội xem xét dựa trên hồ sơ. Bài viết này là phần giải thích mang tính chung; với vụ việc cụ thể, xin hãy trao đổi trực tiếp với luật sư. Các vụ việc đã giải quyết trong quá khứ đều dựa trên tình tiết riêng của từng vụ và không bảo đảm sẽ có kết quả tương tự.

Bài viết này phản ánh pháp luật tại thời điểm tháng 8 năm 2026.

Về tác giả

Matsumura Daisuke, Luật sư
Đoàn Luật sư Dai-Ichi Tokyo (số đăng ký 59077, đăng ký năm 2019)
Văn phòng luật Funado International (Toà nhà Fuse, khu chính tầng 3, 3-4-10 Takada, Toshima-ku, Tokyo)
Lĩnh vực chuyên sâu: bào chữa hình sự cho người nước ngoài và các thủ tục nhập quản.
Các kết quả đã đạt được gồm bản án vô tội trong vụ vi phạm Luật kiểm soát chất kích thích (tàng trữ nhằm mục đích thu lợi), quyết định không khởi tố trong các vụ lừa đảo có tổ chức, và giấy phép lưu trú đặc biệt trong những vụ được coi là khó.

Văn phòng luật Funado International
Website: https://matsumura-lawoffice.jp/
WeChat ID: matsumura1119

----------------------------------------------------------------------
舟渡国際法律事務所
住所 : 東京都豊島区高田3丁目4-10布施ビル本館3階
電話番号 :050-7587-4639


東京を中心に刑事事件の弁護

----------------------------------------------------------------------

当店でご利用いただける電子決済のご案内

下記よりお選びいただけます。