Điều 24 khoản 4 mục チ Luật quản lý xuất nhập cảnh: án ma túy chỉ cần bị kết tội là đã thuộc diện trục xuất
2026/08/13
Khi một người bị bắt vì cần sa hoặc ma túy đá, câu hỏi mà văn phòng chúng tôi nhận được nhiều nhất từ chính đương sự và gia đình họ luôn là: nếu hình phạt nhẹ thì có được ở lại Nhật không? Muốn trả lời thẳng vào câu hỏi đó, phải bắt đầu từ một điều luật duy nhất là Điều 24 khoản 4 mục チ của Luật quản lý xuất nhập cảnh (入管法), và phải đọc đúng như những gì điều luật viết ra. Điều luật này hoàn toàn không nói gì về mức độ nặng nhẹ của hình phạt. Bài viết dưới đây sắp xếp lại cấu trúc của quy định đó một cách cẩn thận nhất có thể, dành cho người đang vướng vụ việc, cho gia đình họ, và cho những người làm thực tiễn cần nắm chắc khung pháp lý.
Những điểm chính
- Điều 24 khoản 4 mục チ quy định người nước ngoài vi phạm các đạo luật về ma túy mà bị kết tội (có bản án có tội) thuộc diện trục xuất (退去強制), và hoàn toàn không giới hạn theo loại hình phạt hay thời hạn hình phạt.
- Phạt tiền, miễn hình phạt, hay hình phạt giam giữ kōkinkei (拘禁刑) được cho hưởng án treo toàn bộ đều rơi vào điều luật này, bởi tất cả đều là bản án có tội.
- Sáu đạo luật thuộc phạm vi điều chỉnh: Luật kiểm soát ma túy và thuốc hướng thần, Luật quy định về trồng cây cần sa, Luật thuốc phiện, Luật kiểm soát chất kích thích (ma túy đá), Luật đặc lệ về ma túy, và Chương 14 Phần 2 Bộ luật Hình sự.
- Điều luật áp dụng như nhau cho mọi tư cách lưu trú (在留資格), kể cả vĩnh trú (永住者), định trú (定住者) và vợ hoặc chồng của người Nhật (日本人の配偶者等).
- Vì vậy, việc bào chữa trong án ma túy phải được thiết kế xoay quanh mục tiêu giành quyết định không khởi tố (不起訴処分) ở giai đoạn trước khi truy tố, chứ không phải xoay quanh mức án tại phiên tòa.
Điều 24 khoản 4 mục チ thực chất quy định điều gì?
Xin nói kết luận trước. Điều 24 khoản 4 mục チ của Luật quản lý xuất nhập cảnh quy định rằng người nước ngoài nào, từ ngày 1 tháng 11 năm 1951 trở đi, vi phạm một số đạo luật nhất định về ma túy và bị kết tội thì thuộc diện trục xuất. Thứ duy nhất mà điều luật đòi hỏi là tồn tại một bản án có tội. Điều luật không đả động gì đến việc tòa đã tuyên hình phạt nào, hay hình phạt đó dài bao lâu.
Khoản 4 của Điều 24 gồm một chuỗi các mục, chạy từ mục イ đến mục ヨ. Phần lớn các mục đều thu hẹp phạm vi bằng cách gắn với hình phạt, chẳng hạn người bị tuyên hình phạt giam giữ, hoặc người bị tuyên hình phạt giam giữ trên một năm. Riêng mục チ không có bộ lọc nào như vậy. Chỉ một khác biệt đó thôi cũng đủ định đoạt rất nhiều điều đối với người nước ngoài vướng vào án ma túy.
Khi đọc luật, những gì không được viết ra cũng quan trọng ngang với những gì được viết. Mục チ không có ngưỡng trên một năm, cũng không có câu loại trừ dành cho người được hưởng án treo. Chính hai sự vắng mặt ấy quyết định tính chất của điều luật này.
Sáu đạo luật về ma túy thuộc phạm vi điều chỉnh
Mục チ liệt kê sáu đạo luật, không hơn. Nói ngược lại, hành vi vi phạm một đạo luật không nằm trong danh sách này thì ít nhất cũng không bị coi là căn cứ trục xuất theo mục チ. Biết chính xác đường biên của điều luật là điều có ý nghĩa thực tiễn rất lớn.
- Luật kiểm soát ma túy và thuốc hướng thần (từ ngày 12 tháng 12 năm 2024, cần sa được quản lý như một chất ma túy theo đạo luật này)
- Luật quy định về trồng cây cần sa
- Luật thuốc phiện
- Luật kiểm soát chất kích thích (ma túy đá)
- Luật đặc lệ về ma túy (đạo luật về các quy định đặc biệt đối với Luật kiểm soát ma túy và thuốc hướng thần và các luật khác, nhằm phòng ngừa các hành vi tiếp tay cho hoạt động bất chính liên quan đến chất bị kiểm soát thông qua hợp tác quốc tế)
- Chương 14 Phần 2 Bộ luật Hình sự (các tội liên quan đến hút thuốc phiện)
Bị phạt tiền hoặc được hưởng án treo thì có thật sự bị tính không?
Có, vẫn bị tính. Vì mục チ chỉ nói đến người đã bị kết tội, nên điều kiện của nó được thỏa mãn dù hình phạt tuyên ra là phạt tiền, là miễn hình phạt, hay là hình phạt giam giữ được cho hưởng án treo toàn bộ. Điều quan trọng chỉ là có bản án có tội, ngoài ra không gì khác.
Chỗ mà nhiều người hiểu lầm nhất chính là ý nghĩa của án treo. Quy định loại trừ dành cho án treo nằm ở một chỗ khác: đó là câu ngoại lệ của mục リ cũng thuộc khoản 4, mục này điều chỉnh người bị tuyên hình phạt giam giữ chung thân hoặc trên một năm, và loại trừ rõ ràng những người được hưởng án treo toàn bộ. Nhưng mục リ mở đầu bằng cụm từ ngoài những người được nêu tại các mục từ ニ đến チ. Nói cách khác, một vụ án ma túy thuộc mục チ ngay từ đầu đã nằm ngoài địa hạt của mục リ, và sự cứu vãn trong câu ngoại lệ đó không bao giờ với tới được.
Niềm tin rằng được hưởng án treo thì vẫn ở lại được là đúng với rất nhiều loại tội phạm khác. Riêng với tội phạm ma túy thì không. Chúng tôi mong người trong cuộc hiểu được khác biệt đó trước khi tòa tuyên án, chứ không phải sau đó.
Loại tư cách lưu trú có làm thay đổi điều gì không?
Mục チ không phân biệt theo loại tư cách lưu trú. Nó áp dụng như nhau cho các tư cách thuộc Bảng 1 (別表第一) như các tư cách làm việc hay tư cách du học, và cho các tư cách thuộc Bảng 2 (別表第二) như vĩnh trú, vợ hoặc chồng của người Nhật, vợ hoặc chồng của người vĩnh trú và định trú.
Đặt cạnh Điều 24 khoản 4-2 thì sự khác biệt hiện ra rất rõ. Quy định đó coi là căn cứ trục xuất trường hợp một người bị tuyên hình phạt giam giữ về các tội thuộc một số chương nhất định của Bộ luật Hình sự, hoặc các tội theo Điều 2, Điều 6 khoản 1 của Luật xử phạt hành vi gây chết người hoặc thương tích do lái xe nguy hiểm, cùng một số tội khác. Nhưng nó chỉ với tới người đang lưu trú bằng tư cách thuộc Bảng 1; các tư cách thuộc Bảng 2 được loại ra. Ở tình huống ấy, tư cách lưu trú dựa trên thân phận và địa vị được hưởng một mức bảo vệ nhất định.
Với ma túy thì lớp bảo vệ ấy không hoạt động. Một người vĩnh trú đã sống ở Nhật hai mươi năm, hay một người đang sống cùng vợ hoặc chồng người Nhật, đều đứng trên đúng một điều luật giống như người vừa mới sang tháng trước. Vì sự bất đối xứng này sinh ra từ chính cấu trúc của đạo luật, nên chỉ trình bày hoàn cảnh sống của một người thôi thì khó lòng lay chuyển được nó.
Chính vì thế, giành được quyết định không khởi tố mang ý nghĩa quyết định
Nếu mục チ đòi hỏi phải có bản án có tội, thì ở nơi không tồn tại bản án nào, điều luật ấy đơn giản là không khởi động. Khi công tố viên quyết định không truy tố, tức là vụ việc kết thúc bằng quyết định không khởi tố, thì không có bản án nào ra đời cả. Đó chính là điểm phân thủy trong việc bào chữa án ma túy.
Theo cảm quan thông thường của giới hình sự, tránh được án tù giam và giành được án treo đã được coi là kết quả tốt. Trong vụ án ma túy của người nước ngoài, không thể bê nguyên thước đo đó sang. Án treo tuy là một kết cục nhẹ xét theo tố tụng hình sự, nhưng nhìn từ góc độ lưu trú thì nó mở đúng cánh cửa mang tên mục チ. Văn phòng chúng tôi gọi phương châm của mình là ưu tiên không khởi tố, và đặt trọng tâm của hoạt động bào chữa vào giai đoạn trước khi truy tố.
Giai đoạn ấy rất ngắn: tính từ lúc bị bắt, nhiều lắm cũng chỉ hơn hai mươi ngày. Trong khoảng thời gian đó, phải rà soát các vấn đề pháp lý như hành vi có thỏa mãn cấu thành tội phạm hay không, có yếu tố cố ý hay không, chứng cứ được thu thập có hợp pháp hay không, đồng thời phải làm cho công tố viên thấy rõ, trong phạm vi quyền quyết định của họ, hậu quả nghiêm trọng của việc mất tư cách lưu trú. Một chiến lược bào chữa không dựa trên hiểu biết về Luật quản lý xuất nhập cảnh thì không thể dựng lên theo cách này.
Về văn phòng chúng tôi và những vụ việc đã đảm nhận
Tại Văn phòng luật sư quốc tế Funado (số 4-10, Takada 3-chome, quận Toshima, Tokyo, tòa nhà Fuse Building tòa chính tầng 3), luật sư Matsumura Daisuke trực tiếp phụ trách toàn bộ tiến trình, từ buổi gặp mặt đầu tiên tại nơi tạm giữ cho đến khi phiên tòa kết thúc phần tranh tụng. Chúng tôi không giao lại cho nhân viên văn phòng hay luật sư trẻ làm thay. Về tiếng Trung, văn phòng có phiên dịch chuyên trách thường trực, thông thạo các vụ việc của người nước ngoài, nên ngoài phiên dịch do cơ quan điều tra chỉ định, thân chủ còn có thể sử dụng một phiên dịch đứng về phía mình trong suốt tiến trình tố tụng hình sự. Với các ngôn ngữ khác ngoài tiếng Trung, chúng tôi sẽ bố trí phiên dịch tùy theo từng vụ việc. Sau khi thủ tục hình sự kết thúc, các thủ tục gia hạn hoặc thay đổi tư cách lưu trú được xử lý trọn gói cùng với văn phòng hành chính sĩ hợp tác.
Trong số các vụ việc đã đảm nhận có liên quan đến chủ đề bài viết này, có vụ một thân chủ bị truy tố về tội vi phạm Luật kiểm soát chất kích thích (tàng trữ nhằm mục đích thu lợi), và qua việc phân tích chứng cứ đến tận cùng cùng phần hỏi bị cáo và đối chất nhân chứng, đã giành được bản án tuyên vô tội. Chúng tôi cũng đã xử lý nhiều vụ án thuộc diện xét xử có hội thẩm nhân dân và nhiều vụ án nghiêm trọng được báo chí đưa tin.
Ngoài ra, trong một vụ việc mà người đến tư vấn vốn nhập cảnh với mục đích du lịch đã mất tư cách lưu trú rồi bị bắt và bị truy tố vì cư trú bất hợp pháp, dù hồ sơ ban đầu bị từ chối tiếp nhận do chưa hoàn tất việc kết hôn và nhận cha con, chúng tôi đã đứng trên quan điểm hiến pháp để thương lượng với cơ quan chức năng, thu thập từng chứng cứ có lợi trong hoàn cảnh gần như không có giấy tờ chính thức nào do nước sở tịch cấp, và qua việc phân tích các tiền lệ từng được cơ quan xuất nhập cảnh cho phép, đã giành được giấy phép lưu trú đặc biệt (在留特別許可) chỉ với một lần nộp hồ sơ. Chúng tôi cũng có kinh nghiệm xử lý các vụ án hình sự quốc tế và các vụ án nghiêm trọng được truyền thông thế giới đưa tin.
Điều 24 khoản 4 mục チ tuy là một điều luật ngắn, nhưng lại là quy định có sức nặng, đủ để định đoạt nền tảng cuộc sống của một người nước ngoài. Chúng tôi tin rằng biết được cấu trúc của nó từ sớm chính là bước đầu tiên để mở rộng những phương án còn có thể sử dụng. Xin lưu ý rằng bài viết này chỉ mang tính giải thích chung; đối với từng vụ việc cụ thể, xin quý vị hãy tư vấn trực tiếp với luật sư. Ngoài ra, các vụ việc đã giải quyết được giới thiệu ở trên đều dựa trên hoàn cảnh riêng của từng vụ, và không bảo đảm sẽ đem lại kết quả tương tự. Nếu quý vị đang lo lắng, xin đừng ôm một mình, mà hãy trao đổi với luật sư ở giai đoạn sớm nhất có thể.
Bài viết này phản ánh pháp luật tại thời điểm tháng 8 năm 2026.
Về tác giả
Matsumura Daisuke, Luật sư
Đoàn Luật sư Dai-Ichi Tokyo (số đăng ký 59077, đăng ký năm 2019)
Văn phòng luật Funado International (Toà nhà Fuse, khu chính tầng 3, 3-4-10 Takada, Toshima-ku, Tokyo)
Lĩnh vực chuyên sâu: bào chữa hình sự cho người nước ngoài và các thủ tục nhập quản.
Các kết quả đã đạt được gồm bản án vô tội trong vụ vi phạm Luật kiểm soát chất kích thích (tàng trữ nhằm mục đích thu lợi), quyết định không khởi tố trong các vụ lừa đảo có tổ chức, và giấy phép lưu trú đặc biệt trong những vụ được coi là khó.
Văn phòng luật Funado International
Website: https://matsumura-lawoffice.jp/
WeChat ID: matsumura1119
----------------------------------------------------------------------
舟渡国際法律事務所
住所 : 東京都豊島区高田3丁目4-10布施ビル本館3階
電話番号 :050-7587-4639
東京を中心に刑事事件の弁護
----------------------------------------------------------------------