舟渡国際法律事務所

Tội phạm ma túy và tư cách lưu trú tại Nhật Bản|Án treo vẫn là lý do bị trục xuất cưỡng chế

お問い合わせはこちら

Tội phạm ma túy và tư cách lưu trú tại Nhật Bản|Án treo vẫn là lý do bị trục xuất cưỡng chế

Tội phạm ma túy và tư cách lưu trú tại Nhật Bản|Án treo vẫn là lý do bị trục xuất cưỡng chế

2026/09/07

Chúng tôi không ít lần nghe những người nhận bản án cho hưởng án treo trong vụ án ma túy nói rằng vì không phải án giam thực tế nên hẳn là vẫn được ở lại Nhật Bản. Tuy nhiên, cách hiểu này không khớp với câu chữ của Luật Quản lý xuất nhập cảnh và công nhận tị nạn (sau đây gọi là Luật Nhập cư).

Đối với tội phạm ma túy, theo Điều 24 khoản 4 mục チ (chi) của Luật Nhập cư, bản thân việc nhận bản án kết tội đã là lý do trục xuất cưỡng chế. Mức độ nặng nhẹ của hình phạt, hay việc có được hưởng án treo hay không, đều không phải là điều kiện của điều luật. Nếu là trộm cắp hay cố ý gây thương tích thì chỉ bị trục xuất cưỡng chế khi bị tuyên hình phạt giam giữ thực tế chung thân hoặc trên 1 năm, riêng ma túy thì cách xử lý hoàn toàn khác.

Bài viết này sắp xếp lại theo đúng câu chữ của điều luật ba vấn đề: tội danh nào và chất ma túy nào thuộc phạm vi áp dụng của quy định này, hiệu lực trục xuất cưỡng chế phát sinh vào thời điểm nào, và biện pháp pháp lý còn lại để duy trì tư cách lưu trú là chế độ cho phép lưu trú đặc biệt.

Những điểm chính của bài viết

  • Tội phạm ma túy trở thành lý do trục xuất cưỡng chế theo Điều 24 khoản 4 mục チ (chi) của Luật Nhập cư, kể cả khi bản án cho hưởng án treo hay chỉ là hình phạt tiền.
  • Đối tượng áp dụng là các hành vi vi phạm Luật Kiểm soát chất kích thích, Luật Kiểm soát ma túy và thuốc hướng thần, Luật về quy chế trồng cây cần sa, Luật Thuốc phiện, Luật Đặc lệ về ma túy và Chương 14 Quyển 2 Bộ luật Hình sự.
  • Hành vi vi phạm Luật Dược phẩm và Thiết bị y tế liên quan đến ma túy nguy hiểm (chất chỉ định) không nằm trong danh sách liệt kê này.
  • Thủ tục trục xuất cưỡng chế trên thực tế chỉ khởi động sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, và việc kháng cáo, kháng nghị giám đốc thẩm sẽ đẩy lùi thời điểm đó về sau.
  • Biện pháp pháp lý để duy trì tư cách lưu trú chỉ giới hạn ở chế độ cho phép lưu trú đặc biệt tại Điều 50 Luật Nhập cư. Không thể sử dụng chế độ lệnh xuất cảnh.

1. Vì sao án treo vẫn dẫn tới mất tư cách lưu trú

Điều 24 khoản 4 mục チ (chi) của Luật Nhập cư liệt kê vào lý do trục xuất cưỡng chế người đã nhận bản án kết tội từ ngày 1 tháng 11 năm 1951 (Showa 26) trở đi do vi phạm quy định của Luật Kiểm soát ma túy và thuốc hướng thần, Luật về quy chế trồng cây cần sa, Luật Thuốc phiện, Luật Kiểm soát chất kích thích, Luật Đặc lệ về ma túy hoặc Chương 14 Quyển 2 Bộ luật Hình sự.

Điểm cần đặc biệt lưu ý ở đây là điều luật chỉ viết là người đã nhận bản án kết tội. Loại hình phạt, độ dài của thời hạn chấp hành hình phạt, có hay không có án treo đều không phải là điều kiện. Do đó, ngay cả khi nhận một bản án điển hình như hình phạt giam giữ 1 năm 6 tháng cho hưởng án treo 3 năm vì tự sử dụng chất kích thích, thì chính sự kiện đã nhận bản án đó khiến người này thuộc mục 4(chi).

So sánh với các tội phạm khác thì khác biệt hiện ra rất rõ. Các tội phạm thông thường ngoài ma túy được xử lý tại mục リ (ri) của cùng Điều 24 khoản 4. Mục リ (ri) lấy việc bị tuyên hình phạt giam giữ chung thân hoặc trên 1 năm làm lý do trục xuất cưỡng chế, nhưng phần trừ của mục này loại ra người được tuyên cho hưởng án treo toàn bộ hình phạt và người được hưởng án treo một phần mà phần phải chấp hành thực tế từ 1 năm trở xuống. Nói cách khác, với tội phạm không phải ma túy, hễ được hưởng án treo thì không trở thành lý do trục xuất cưỡng chế.

Tiêu chíĐiều 24 khoản 4 mục チ (chi) của Luật Nhập cư (ma túy)Mục リ (ri) cùng khoản (tội phạm thông thường ngoài ma túy)
Điều kiệnĐã nhận bản án kết tộiĐã bị tuyên hình phạt giam giữ chung thân hoặc trên 1 năm
Án treoKhông được loại trừ (vẫn thuộc diện áp dụng)Được loại trừ theo phần trừ của điều luật
Hình phạt tiềnThuộc diện áp dụngKhông thuộc diện áp dụng
Mức tối thiểu của hình phạtKhông quy địnhTrên 1 năm

Khi bào chữa trong các vụ án ma túy, lý do chúng tôi nói rằng lấy án treo làm mục tiêu là chưa đủ chính là nằm ở cấu trúc điều luật này. Nhìn từ góc độ bảo vệ tư cách lưu trú, điều cần hướng tới là quyết định không truy tố, và khi vụ án đã ra tòa thì phải cân nhắc cách tranh tụng sao cho ngay từ đầu không bị kết tội với tội danh thuộc mục 4(chi).

2. Các tội danh ma túy thuộc diện áp dụng

Trong sáu đạo luật mà mục 4(chi) chỉ ra, dưới đây là các tội danh chính thường gặp trong thực tiễn cùng khung hình phạt của chúng. Từ ngày 1 tháng 6 năm 2025 (Reiwa 7) trở đi, các hình phạt tước tự do đều đã được thống nhất thành hình phạt giam giữ.

Đạo luậtTội danh chính (điều luật)Khung hình phạt
Luật Kiểm soát chất kích thíchNhập khẩu, xuất khẩu, sản xuất (Điều 41)Hình phạt giam giữ có thời hạn từ 1 năm trở lên. Nếu nhằm mục đích thu lợi thì là hình phạt giam giữ chung thân hoặc từ 3 năm trở lên
Luật Kiểm soát chất kích thíchTàng trữ, chuyển giao, tiếp nhận (Điều 41-2)Hình phạt giam giữ đến 10 năm. Nếu nhằm mục đích thu lợi thì là hình phạt giam giữ có thời hạn từ 1 năm trở lên
Luật Kiểm soát chất kích thíchSử dụng (Điều 41-3 khoản 1 mục 1)Hình phạt giam giữ đến 10 năm
Luật Kiểm soát ma túy và thuốc hướng thầnNhập khẩu, xuất khẩu, sản xuất heroin và chất tương tự (Điều 64)Hình phạt giam giữ có thời hạn từ 1 năm trở lên
Luật Kiểm soát ma túy và thuốc hướng thầnNhập khẩu, xuất khẩu, sản xuất ma túy khác ngoài heroin, trồng cây nguyên liệu ma túy (Điều 65)Hình phạt giam giữ từ 1 năm đến 10 năm
Luật Kiểm soát ma túy và thuốc hướng thầnTàng trữ, chuyển giao, tiếp nhận ma túy (Điều 66)Hình phạt giam giữ đến 7 năm
Luật Kiểm soát ma túy và thuốc hướng thầnSử dụng ma túy (Điều 66-2). Việc sử dụng cần sa nằm trong quy định nàyHình phạt giam giữ đến 7 năm
Luật Kiểm soát ma túy và thuốc hướng thầnNhập khẩu thuốc hướng thần và hành vi tương tự (Điều 66-3), chuyển giao và hành vi tương tự (Điều 66-4)Hình phạt giam giữ đến 5 năm và đến 3 năm
Luật về quy chế trồng cây cần saTrồng cây cần sa trái phép (Điều 24)Hình phạt giam giữ từ 1 năm đến 10 năm
Luật Thuốc phiệnTrồng cây anh túc, thu hoạch thuốc phiện, xuất nhập khẩu thuốc phiện và chất tương tự (Điều 51)Hình phạt giam giữ từ 1 năm đến 10 năm
Luật Thuốc phiệnChuyển giao, tiếp nhận, tàng trữ thuốc phiện và vỏ quả anh túc (Điều 52)Hình phạt giam giữ đến 7 năm
Luật Đặc lệ về ma túyNhập khẩu trái phép và hành vi tương tự có tính chất nghề nghiệp (Điều 5)Hình phạt giam giữ chung thân hoặc từ 5 năm trở lên và hình phạt tiền đến 10.000.000 yên
Luật Đặc lệ về ma túyChe giấu thu nhập từ tội phạm ma túy (Điều 6), tiếp nhận thu nhập đó (Điều 7)Hình phạt giam giữ đến 10 năm và đến 7 năm, hoặc hình phạt tiền
Luật Đặc lệ về ma túyNhập khẩu vật phẩm với tư cách là chất bị kiểm soát và hành vi tương tự (Điều 8)Hình phạt giam giữ đến 3 năm hoặc hình phạt tiền đến 500.000 yên
Luật Đặc lệ về ma túyKích động, xúi giục việc lạm dụng chất bị kiểm soát (Điều 9)Hình phạt giam giữ đến 3 năm hoặc hình phạt tiền đến 500.000 yên
Chương 14 Quyển 2 Bộ luật Hình sựNhập khẩu thuốc phiện hút, nhập khẩu dụng cụ hút thuốc phiện và hành vi tương tự (từ Điều 136 trở đi)Theo quy định của từng điều luật

Trong thực tiễn, Điều 8 và Điều 9 của Luật Đặc lệ về ma túy là hai quy định dễ bị bỏ sót nhất. Điều 8 là quy định nhằm bao quát trường hợp một người có ý định nhập khẩu chất bị kiểm soát nhưng thực tế lại nhập khẩu vật phẩm không phải là chất bị kiểm soát, tức là các vụ ma túy giả, và khung hình phạt của điều này có bao gồm hình phạt tiền. Điều 9 là quy định về hành vi công khai kích động, xúi giục việc lạm dụng chất bị kiểm soát hoặc việc thực hiện tội phạm ma túy, và các bài đăng trên mạng xã hội đôi khi trở thành vấn đề theo điều này. Cả hai đều là vi phạm Luật Đặc lệ về ma túy, nên dù chỉ là lệnh xử lý rút gọn với hình phạt tiền thì vẫn thuộc mục 4(chi). Cách hiểu rằng bên trong không phải ma túy thật nên không sao là không đứng vững.

3. Tên gọi pháp lý và tên lóng của các chất ma túy

Nhiều thân chủ chỉ biết đến chất ma túy qua tên lóng chứ không qua tên gọi pháp lý. Cần tránh tình trạng thủ tục cứ tiếp diễn trong khi tên gọi được dùng lúc hỏi cung và tên gọi ghi trong cáo trạng vẫn chưa kết nối được với nhau trong đầu người bị buộc tội. Dưới đây là bảng đối chiếu các chất chính.

Phân loại và tên gọi theo pháp luậtTên lóng thường gặp
Chất kích thích (methamphetamine, amphetamine), tiếng Nhật là 覚醒剤Ma túy đá, hàng đá, đá, ice, crystal, shabu (シャブ)
Cần sa (cây cần sa, nhựa cần sa, chế phẩm cô đặc từ cần sa), tiếng Nhật là 大麻. Từ ngày 12 tháng 12 năm 2024 (Reiwa 6) được xử lý như ma túyCỏ, bồ đà, tài mà, weed, marijuana, hashish (ハシシ), tinh dầu cần sa, wax
Ma túy (cocaine), tiếng Nhật là 麻薬(コカイン)Coke, hàng bột trắng, snow
Ma túy (heroin, diacetylmorphine), tiếng Nhật là 麻薬(ヘロイン)Bạch phiến, hàng trắng, junk
Ma túy (MDMA, MDA), tiếng Nhật là 麻薬(MDMA)Thuốc lắc, viên lắc, kẹo, ecstasy, X
Ma túy (LSD), tiếng Nhật là 麻薬(LSD)Bùa lưỡi, tem giấy, acid
Ma túy (ketamine), tiếng Nhật là 麻薬(ケタミン)Ke, khay, K
Ma túy dùng trong y tế (morphine, codeine và chất tương tự), tiếng Nhật là 医療用麻薬Thường được gọi theo tên biệt dược kê đơn
Thuốc hướng thần (flunitrazepam, etizolam, triazolam và chất tương tự), tiếng Nhật là 向精神薬Thuốc ngủ, thuốc an thần, Rohypnol, Silece, Depas, Halcion
Thuốc phiện, vỏ quả anh túc, tiếng Nhật là あへん・けしがらThuốc phiện, nàng tiên nâu, anh túc, poppy

Theo luật sửa đổi công bố ngày 13 tháng 12 năm 2023 (Reiwa 5), từ ngày 12 tháng 12 năm 2024 (Reiwa 6), cần sa đã được xếp vào nhóm ma túy theo Luật Kiểm soát ma túy và thuốc hướng thần. Nhờ đó, hành vi sử dụng cần sa vốn trước đây không có quy định xử phạt nay trở thành hành vi vi phạm Điều 27 của luật này và thuộc đối tượng điều chỉnh của Điều 66-2. Các loại tinh dầu, kẹo dẻo, sáp có chứa tetrahydrocannabinol cũng chịu sự điều chỉnh của luật này với tư cách là cần sa.

4. Ma túy nguy hiểm (chất chỉ định) được xử lý khác

Đây là điểm tạo ra khác biệt có tính quyết định trong thực tiễn. Phần lớn cái gọi là ma túy nguy hiểm được quản lý với tư cách là chất chỉ định theo Điều 2 khoản 15 của Luật Dược phẩm và Thiết bị y tế, và hành vi liên quan cấu thành tội vi phạm luật này. Các sản phẩm có chứa isobutyl nitrite cũng tương tự.

Và Luật Dược phẩm và Thiết bị y tế không nằm trong sáu đạo luật được liệt kê tại Điều 24 khoản 4 mục チ (chi) của Luật Nhập cư. Quy định riêng tại Điều 24 khoản 4-2 dành cho người có tư cách lưu trú thuộc Bảng phụ lục số 1 cũng chỉ liệt kê một số chương nhất định của Bộ luật Hình sự và Luật về xử phạt hành vi bạo lực cùng một số đạo luật khác, chứ không bao gồm Luật Dược phẩm và Thiết bị y tế.

Do đó, nếu vụ việc chỉ dừng lại ở hành vi vi phạm Luật Dược phẩm và Thiết bị y tế liên quan đến chất chỉ định, thì việc có thuộc lý do trục xuất cưỡng chế hay không được phán đoán theo Điều 24 khoản 4 mục リ (ri), và chỉ khi bị tuyên hình phạt giam giữ thực tế chung thân hoặc trên 1 năm thì mới thuộc diện áp dụng. Dù cùng được gọi chung là vụ án ma túy, việc tội danh cuối cùng rơi vào bên nào sẽ làm thay đổi tận gốc ảnh hưởng đối với tư cách lưu trú. Vì vậy, việc xác nhận chính xác kết quả giám định thành phần và tội danh ngay từ giai đoạn điều tra có ý nghĩa thực tiễn rất lớn.

Tuy nhiên, không thuộc lý do trục xuất cưỡng chế lại là vấn đề khác với việc được chấp thuận gia hạn thời hạn lưu trú. Tư cách đạo đức tốt là một yếu tố được xem xét khi gia hạn, và sự kiện đã nhận bản án kết tội vẫn có thể ảnh hưởng đến việc gia hạn.

5. Hiệu lực trục xuất cưỡng chế phát sinh khi bản án có hiệu lực pháp luật

Điều 24 khoản 4 mục チ (chi) quy định về người đã nhận bản án kết tội, và điều này được hiểu là chỉ bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật. Việc Điều 5 khoản 1 mục 9-2 viết tách bạch rõ ràng giữa việc tuyên án và việc bản án có hiệu lực pháp luật cũng củng cố cách hiểu này.

Trên thực tế, chỉ riêng việc bị tuyên án thì thủ tục trục xuất cưỡng chế chưa thực sự vận hành. Nếu kháng cáo thì bản án chưa có hiệu lực pháp luật, và nếu tiếp tục kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án phúc thẩm thì bản án chưa có hiệu lực cho đến khi có kết luận của cấp giám đốc thẩm. Việc kháng cáo trong tố tụng hình sự vừa là thủ tục để tranh luận về mức hình phạt và việc xác định sự thật, đồng thời cũng là thủ tục tạo ra khoảng thời gian để chuẩn bị cho vấn đề lưu trú.

Cùng với đó, có ba điều luật cần nắm. Thứ nhất, Điều 62 khoản 3 của Luật Nhập cư quy định người đứng đầu cơ sở giáo dục cải tạo phải thông báo ngay khi người nước ngoài được trả tự do do đã chấp hành xong hình phạt hoặc lý do khác. Trong trường hợp án giam thực tế, việc bàn giao cho cơ quan quản lý xuất nhập cảnh vào thời điểm ra tù là dựa trên quy định này. Thứ hai, Điều 63 khoản 1 quy định rằng ngay cả khi thủ tục tố tụng hình sự đang tiến hành thì thủ tục trục xuất cưỡng chế vẫn có thể được tiến hành song song, còn khoản 2 của cùng điều này quy định việc thi hành lệnh trục xuất cưỡng chế được thực hiện sau khi thủ tục tố tụng hình sự kết thúc. Thứ ba, theo Điều 50 khoản 3, sau khi lệnh trục xuất cưỡng chế đã được ban hành thì không thể nộp đơn xin phép lưu trú đặc biệt.

Vì vậy, bản thân việc tạo ra thời gian là có ý nghĩa, nhưng dùng thời gian đó vào việc gì mới là tất cả. Nếu trong thời gian kháng cáo không tích lũy được các tình tiết làm nền tảng cho việc lưu trú thì rốt cuộc chỉ là kéo dài thời điểm bản án có hiệu lực mà thôi. Ngoài ra, nếu thời hạn lưu trú hết hạn thì một thủ tục riêng có thể bắt đầu với tư cách là cư trú quá hạn theo Điều 24 khoản 4 mục ロ (ro), nên việc quản lý thời hạn lưu trú là không thể thiếu ngay cả trong thời gian kháng cáo.

6. Không thể sử dụng chế độ lệnh xuất cảnh

Trong các vụ cư trú quá hạn, có lựa chọn tự nguyện trình diện để nhận lệnh xuất cảnh, xuất cảnh mà không bị thu dung, và giữ thời hạn từ chối nhập cảnh ở mức 1 năm. Nhưng trong các vụ án ma túy, lựa chọn này bị khép lại ngay từ trong chế độ.

Điều 24-3 của Luật Nhập cư, tại mục 2, đặt ra yêu cầu đối với người thuộc diện lệnh xuất cảnh là không thuộc bất kỳ mục nào từ ハ (ha) đến ヨ (yo) của Điều 24 khoản 4. Vì mục チ (chi) về ma túy nằm trong phạm vi từ ハ (ha) đến ヨ (yo) này, nên người đã nhận bản án kết tội về ma túy bị loại khỏi đối tượng của lệnh xuất cảnh. Kết quả là phải trải qua thủ tục trục xuất cưỡng chế, và thời hạn từ chối nhập cảnh sẽ là 5 năm nếu chưa từng bị trục xuất cưỡng chế, và 10 năm nếu đã từng bị.

7. Chỉ cần một lần bị tuyên hình phạt, việc từ chối nhập cảnh không có thời hạn

Còn một điều luật nữa hay bị bỏ qua. Điều 5 khoản 1 mục 5 của Luật Nhập cư liệt kê vào lý do từ chối nhập cảnh những người đã từng bị tuyên hình phạt do vi phạm pháp luật của Nhật Bản hoặc của nước ngoài về kiểm soát ma túy, cần sa, thuốc phiện, chất kích thích hoặc thuốc hướng thần.

Mục này không quy định thời hạn. Khác với cấu trúc của mục 9 cùng khoản, nơi thời hạn từ chối nhập cảnh được ấn định là 1 năm, 5 năm hoặc 10 năm kể từ ngày rời khỏi Nhật Bản, mục 5 tiếp tục là lý do từ chối nhập cảnh chừng nào còn tồn tại sự kiện đã bị tuyên hình phạt, dù sau đó bao nhiêu năm đã trôi qua. Bản án cho hưởng án treo hay lệnh xử lý rút gọn với hình phạt tiền cũng đều là đã bị tuyên hình phạt. Trường hợp vi phạm pháp luật nước ngoài cũng nằm trong phạm vi này.

Không phải là hoàn toàn không còn dư địa cứu vãn. Điều 5-2 quy định rằng khi Bộ trưởng Bộ Tư pháp thấy là thích đáng thì có thể quyết định không từ chối nhập cảnh chỉ dựa trên mục 5, và Điều 12 khoản 1 mục 3 đặt ra chế độ cho phép nhập cảnh đặc biệt. Tuy nhiên, cả hai đều là phán đoán mang tính tùy nghi của Bộ trưởng Bộ Tư pháp và không đương nhiên được chấp thuận.

Điểm này quyết định mức độ hệ trọng của lựa chọn rời khỏi Nhật Bản một lần. Với các vụ án ma túy, suy nghĩ về nước rồi làm lại từ đầu khó có thể áp dụng. Chính vì vậy, đối với người đã có nền tảng sinh hoạt tại Nhật Bản, việc có duy trì được tư cách lưu trú thông qua cho phép lưu trú đặc biệt hay không, trên thực tế là cơ hội chỉ đến một lần.

8. Biện pháp còn lại chỉ là cho phép lưu trú đặc biệt

Con đường pháp lý duy nhất để một người nước ngoài thuộc lý do trục xuất cưỡng chế tiếp tục lưu trú tại Nhật Bản là chế độ cho phép lưu trú đặc biệt tại Điều 50 của Luật Nhập cư. Khoản 1 của điều này quy định rằng có thể đặc biệt cho phép lưu trú theo đơn xin hoặc theo thẩm quyền, khi người đó đã được cấp phép vĩnh trú, khi người đó từng có nguyên quán tại Nhật Bản với tư cách công dân Nhật Bản, khi người đó bị đặt dưới sự khống chế của người khác do mua bán người hoặc lý do tương tự, khi người đó đã được công nhận là người tị nạn hoặc đối tượng được bảo hộ bổ sung, và khi Bộ trưởng Bộ Tư pháp nhận thấy có tình tiết đặc biệt cần cho phép lưu trú. Phần lớn các vụ án ma túy sẽ đi theo mục 5 này.

Thời điểm tiến hành thủ tục cần được chú ý. Theo Điều 50 khoản 2, người có thể nộp đơn xin phép lưu trú đặc biệt là người nước ngoài đã bị thu dung theo lệnh thu dung và người nước ngoài đã nhận quyết định áp dụng biện pháp giám sát. Ở giai đoạn trước đó, hoạt động của luật sư mang tính chất đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp vận dụng thẩm quyền của mình. Theo khoản 3, sau khi lệnh trục xuất cưỡng chế được ban hành thì không thể nộp đơn, và theo khoản 4, chỉ có thể cho phép sau khi đương sự chấp nhận kết quả nhận định hoặc phán định, hoặc sau khi có phán quyết rằng khiếu nại là không có căn cứ. Theo khoản 10, trong trường hợp không được chấp thuận thì đương sự được giao văn bản có nêu lý do.

Ở đây, xin nêu một cách đọc điều luật rất quan trọng đối với thân chủ trong các vụ án ma túy. Phần trừ của Điều 50 khoản 1 đặt ra một điều kiện gia trọng đối với người bị tuyên hình phạt giam giữ chung thân hoặc trên 1 năm, và đối với người thuộc Điều 24 mục 3-2, mục 3-3, khoản 4 mục ハ (ha), khoản 4 từ mục オ (o) đến mục ヨ (yo), theo đó chỉ được cho phép lưu trú khi có tình tiết đặc biệt cho thấy việc không cho phép lưu trú là thiếu sự cân nhắc về nhân đạo.

Mục チ (chi) khoản 4 về ma túy không nằm trong danh sách liệt kê của điều kiện gia trọng này. Nghĩa là, nếu là bản án cho hưởng án treo thì điều kiện gia trọng không được kích hoạt, và hồ sơ được xem xét theo khung phán đoán thông thường của phần chính Điều 50 khoản 1. Ngược lại, nếu bị tuyên hình phạt giam giữ thực tế trên 1 năm thì vì lý do mức hình phạt, điều kiện gia trọng của phần trừ sẽ được kích hoạt và tiêu chuẩn phán đoán được nâng lên một bậc. Việc là án treo hay án giam thực tế không tạo ra khác biệt ở cửa vào là việc có thuộc lý do trục xuất cưỡng chế hay không, nhưng lại tạo ra khác biệt rõ rệt ở cửa ra là khung phán đoán của cho phép lưu trú đặc biệt.

9. Lý thuyết chung về cho phép lưu trú đặc biệt và tính gắn bó với Nhật Bản

Điều 50 khoản 5 của Luật Nhập cư quy định rằng khi phán đoán, cơ quan có thẩm quyền xem xét lý do mong muốn lưu trú, quan hệ gia đình, tư cách đạo đức, hoàn cảnh dẫn đến việc nhập cảnh Nhật Bản, thời gian đã lưu trú tại Nhật Bản, địa vị pháp lý trong thời gian đó, sự kiện là lý do của việc trục xuất cưỡng chế, sự cần thiết của cân nhắc nhân đạo, đồng thời xem xét tình hình trong và ngoài nước, ảnh hưởng đối với người cư trú bất hợp pháp và các tình tiết khác. Hướng dẫn về cho phép lưu trú đặc biệt của Cục Quản lý xuất nhập cảnh và lưu trú đã được sửa đổi vào tháng 3 năm 2024 (Reiwa 6).

Nếu diễn giải những nội dung này theo cảm nhận của thực tiễn, thì điều nằm ở trung tâm của phán đoán chính là tính gắn bó với Nhật Bản. Câu hỏi đặt ra là nền tảng sinh hoạt của đương sự đã bén rễ sâu đến đâu trong xã hội Nhật Bản, và việc cắt đứt nền tảng đó bất hợp lý đến mức nào. Hướng dẫn nêu rõ sự cần thiết bảo vệ lợi ích của trẻ em được sống cùng gia đình là yếu tố tích cực, và cũng nêu tình tiết đương sự đã được giáo dục trong một khoảng thời gian đáng kể tại các cơ sở giáo dục tiểu học và trung học ở Nhật Bản là yếu tố tích cực.

Nói một cách khái quát, người đã tốt nghiệp tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông tại Nhật Bản và không có tiền án tiền sự có thể được coi là ví dụ điển hình cho việc được cho phép lưu trú đặc biệt. Bởi lẽ tính bất hợp lý của việc buộc rời khỏi Nhật Bản một người mà thực tế sinh hoạt, ngôn ngữ và các mối quan hệ con người đều chỉ có ở Nhật Bản là quá rõ ràng.

Thân chủ trong các vụ án ma túy đứng ở vị trí ví dụ điển hình đó cộng thêm yếu tố tiêu cực là tư cách đạo đức. Hướng dẫn nêu hành vi vi phạm pháp luật hình sự là yếu tố tiêu cực, và việc phạm tội về ma túy không phải là chuyện nhẹ. Do vậy, chứng minh được phía tính gắn bó một cách cụ thể đến mức nào sẽ chi phối kết luận. Đó là công việc tích lũy các tài liệu như giấy chứng nhận đang theo học, bằng tốt nghiệp, bản trình bày của người thân, hồ sơ làm việc và nộp thuế, tài liệu thể hiện sự gắn kết với cộng đồng địa phương, dưới dạng những sự thật riêng lẻ chứ không phải những lập luận trừu tượng.

Cũng nên có cảm nhận về những con số. Theo công bố của Cục Quản lý xuất nhập cảnh và lưu trú, trong năm 2025 (Reiwa 7), số người nước ngoài bị áp dụng thủ tục trục xuất cưỡng chế và thủ tục tương tự là 18.442 người, trong đó cư trú quá hạn là 17.031 người và vi phạm pháp luật hình sự là 503 người. Cũng trong năm đó, số vụ đơn xin phép lưu trú đặc biệt được chấp thuận là 1.026 vụ. Vì tính chất của mẫu số và tử số khác nhau nên không thể đọc thành một tỷ lệ chấp thuận đơn thuần, nhưng cần ghi nhận rằng việc chấp thuận là một phán đoán mang tính ngoại lệ.

Ngoài ra, người vĩnh trú đặc biệt được xử lý khác. Theo Điều 22 khoản 1 của Luật Đặc lệ Nhập cư, việc trục xuất cưỡng chế người vĩnh trú đặc biệt chỉ giới hạn ở các tội về nội loạn, ngoại hoạn, các tội liên quan đến quan hệ ngoại giao, hành vi phạm tội đối với nguyên thủ quốc gia nước ngoài và người tương đương, và trường hợp bị tuyên hình phạt giam giữ chung thân hoặc trên 7 năm mà Bộ trưởng Bộ Tư pháp nhận định rằng lợi ích trọng đại của Nhật Bản đã bị xâm hại. Việc nhận bản án cho hưởng án treo trong vụ án ma túy không dẫn tới trục xuất cưỡng chế.

10. Kết quả được định đoạt ngay từ giai đoạn bào chữa hình sự

Hệ quả thực tiễn rút ra từ những phân tích trên là rõ ràng. Cuộc chiến để giữ tư cách lưu trú không bắt đầu khi đã bước vào thủ tục của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh, mà đã bắt đầu ngay từ giai đoạn tố tụng hình sự.

Thứ nhất, nếu có quyết định không truy tố thì không tồn tại bản án kết tội, nên không thuộc Điều 24 khoản 4 mục チ (chi). Trong các vụ án ma túy, lời nhận tội trên thực tế thường trở thành yếu tố mang tính quyết định, nhưng vẫn luôn có những điểm có thể tranh luận tùy từng vụ việc, như nhận thức về việc tàng trữ hay sử dụng, quan hệ với đồng phạm, tính hợp pháp của thủ tục thu giữ. Trong các vụ án có người nước ngoài, nội dung trao đổi qua phiên dịch khi hỏi cung được ghi thành biên bản, nên có nguy cơ những nhận thức mà người bị buộc tội không hề trình bày lại bị cố định trong biên bản. Ý nghĩa của việc bảo đảm có một phiên dịch hoạt động vì chính thân chủ, tách biệt với phiên dịch do cơ quan điều tra thu xếp, nằm ở đây.

Thứ hai, cần theo dõi sát việc tội danh cuối cùng thuộc về đạo luật nào. Việc vụ án chỉ dừng ở vi phạm Luật Dược phẩm và Thiết bị y tế với tư cách chất chỉ định, hay bị xác định là ma túy qua giám định thành phần, sẽ quyết định việc có thuộc lý do trục xuất cưỡng chế hay không.

Thứ ba, ở giai đoạn quyết định hình phạt, song song với việc hướng tới án treo, việc lưu lại trong hồ sơ những tình tiết hướng đến cho phép lưu trú đặc biệt là hữu ích. Quan hệ gia đình, quá trình học tập, tình trạng công việc, các biện pháp cụ thể nhằm phòng ngừa tái phạm vừa là tình tiết giảm nhẹ trong vụ án hình sự, vừa chính là yếu tố tích cực trong phán đoán về cho phép lưu trú đặc biệt sau đó. Yêu cầu đặt ra là không tách rời bào chữa hình sự với thủ tục quản lý xuất nhập cảnh, mà thiết kế chúng như một dòng chảy thống nhất.

Thứ tư là quản lý thời hạn lưu trú. Nếu thời hạn lưu trú hết hạn giữa chừng thủ tục tố tụng hình sự, thì ngoài vấn đề ma túy sẽ phát sinh thêm vấn đề cư trú quá hạn, khiến các lựa chọn càng bị thu hẹp.

11. Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1 Tôi đã bị tuyên án treo. Liệu tôi có khả năng được ở lại Nhật Bản không?

Khả năng đó là có. Án treo vẫn thuộc lý do trục xuất cưỡng chế theo Điều 24 khoản 4 mục チ (chi) của Luật Nhập cư, nhưng điều kiện gia trọng tại phần trừ trong Điều 50 khoản 1 không được áp dụng, nên đơn xin phép lưu trú đặc biệt sẽ được xem xét theo khung phán đoán thông thường. Điều quyết định là bạn chứng minh được nền tảng sinh hoạt tại Nhật Bản một cách cụ thể đến mức nào.

Câu hỏi 2 Nếu kháng cáo thì có ngăn được việc trục xuất cưỡng chế không?

Chính xác hơn thì đó không phải là ngăn chặn, mà là làm chậm thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật. Bản án kết tội nói tại Điều 24 khoản 4 mục チ (chi) được hiểu là bản án đã có hiệu lực pháp luật, nên khi bản án chưa có hiệu lực thì thủ tục theo mục này chưa thực sự khởi động. Tuy nhiên, nếu thời hạn lưu trú hết hạn thì một thủ tục khác về cư trú quá hạn có thể bắt đầu, vì vậy vẫn phải quản lý chặt thời hạn lưu trú.

Câu hỏi 3 Trường hợp chỉ bị phạt tiền thì có trở thành lý do trục xuất cưỡng chế không?

Có. Điều 24 khoản 4 mục チ (chi) không lấy loại hình phạt làm điều kiện. Ngay cả khi bị lệnh xử lý rút gọn đối với các tội có quy định hình phạt tiền như Điều 8 hoặc Điều 9 của Luật Đặc lệ về ma túy, người đó vẫn là người đã nhận bản án kết tội.

Câu hỏi 4 Ma túy nguy hiểm có bị xử lý giống như vậy không?

Khác. Hành vi vi phạm Luật Dược phẩm và Thiết bị y tế liên quan đến chất chỉ định không nằm trong danh sách liệt kê của Điều 24 khoản 4 mục チ (chi), nên chỉ khi bị tuyên hình phạt giam giữ thực tế chung thân hoặc trên 1 năm thì mới thuộc lý do trục xuất cưỡng chế theo mục リ (ri) của cùng khoản. Dù vậy, việc này vẫn có thể ảnh hưởng đến việc gia hạn thời hạn lưu trú.

Câu hỏi 5 Tôi về nước một lần rồi quay lại Nhật Bản được không?

Với các vụ án ma túy thì điều này rất khó. Điều 5 khoản 1 mục 5 của Luật Nhập cư quy định người đã từng bị tuyên hình phạt do vi phạm pháp luật về kiểm soát ma túy là đối tượng bị từ chối nhập cảnh mà không định thời hạn. Vẫn có dư địa ngoại lệ theo Điều 5-2 và Điều 12, nhưng cả hai đều thuộc phán đoán mang tính tùy nghi của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

Câu hỏi 6 Tôi là người vĩnh trú, vụ án ma túy có bị trục xuất cưỡng chế không?

Người vĩnh trú cũng thuộc đối tượng của Điều 24 khoản 4 mục チ (chi). Việc đã được cấp phép vĩnh trú là tình tiết được xem xét khi cho phép lưu trú đặc biệt theo Điều 50 khoản 1 mục 1, nhưng không làm mất đi việc thuộc lý do trục xuất cưỡng chế. Ngược lại, đối với người vĩnh trú đặc biệt, Điều 22 khoản 1 của Luật Đặc lệ Nhập cư giới hạn các lý do trục xuất cưỡng chế, và vụ án ma túy không nằm trong số đó.

12. Kết luận

Vụ án ma túy gắn trực tiếp với tư cách lưu trú theo một cách không thể đo bằng mức độ nặng nhẹ của hình phạt. Nếu yên tâm với kết quả án treo rồi cứ ngồi chờ thủ tục của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh, thì có thể đến khi nhận lệnh thu dung mới nhận ra mức độ hệ trọng của sự việc. Ngược lại, nếu ngay từ những bước đi đầu tiên của vụ án hình sự đã thiết kế công việc với tầm nhìn hướng tới vấn đề lưu trú, thì có thể nối quyết định không truy tố, việc lựa chọn tội danh, việc ghi nhận tình tiết giảm nhẹ và đơn xin phép lưu trú đặc biệt thành một đường thẳng liền mạch.

Tôi làm nghề luật sư là để bảo vệ những người quan trọng đối với thân chủ của mình.

Tại văn phòng chúng tôi, luật sư Daisuke Matsumura trực tiếp đảm nhiệm toàn bộ các công đoạn, từ bước tiếp xúc đầu tiên khi gặp thân chủ trong trại tạm giam cho đến khi kết thúc tranh tụng tại phiên tòa (không giao cho nhân viên văn phòng hay luật sư trẻ làm thay). Về phiên dịch, văn phòng có phiên dịch tiếng Trung chuyên trách am hiểu các vụ án của người nước ngoài làm việc thường trực, còn với các ngôn ngữ khác bao gồm tiếng Việt, chúng tôi thu xếp phiên dịch tùy theo từng vụ việc. Đối với các vụ án hình sự của người nước ngoài và các vấn đề về tư cách lưu trú phát sinh sau đó, xin mời liên hệ với văn phòng chúng tôi, nơi đã tập trung vào các vụ việc của người nước ngoài.

Bài viết này là phần giải thích mang tính khái quát và không bảo đảm kết quả. Đối với từng vụ việc cụ thể, xin vui lòng trao đổi trực tiếp với luật sư. Thông tin trong bài viết này được cập nhật đến tháng 9 năm 2026.

Thông tin về người viết

松村大介 / Daisuke Matsumura, Luật sư (Bengoshi)
Đoàn Luật sư Dai-Ichi Tokyo, số đăng ký 59077 (đăng ký năm 2019)
Funado International Law Office, Toshima-ku, Tokyo
Lĩnh vực tập trung chính: bào chữa hình sự cho người nước ngoài, lấy thân chủ quốc tịch Trung Quốc làm trung tâm, và các thủ tục, tố tụng hành chính về quản lý xuất nhập cảnh.

Funado International Law Office
Website: https://matsumura-lawoffice.jp/
WeChat ID: matsumura1119

Other languages / 其他语言:日本語简体中文繁體中文English한국어नेपालीPortuguêsTagalogEspañol

----------------------------------------------------------------------
舟渡国際法律事務所
住所 : 東京都豊島区高田3丁目4-10布施ビル本館3階
電話番号 :050-7587-4639


東京を中心に刑事事件の弁護

東京にて行政事件に関する対応

----------------------------------------------------------------------

当店でご利用いただける電子決済のご案内

下記よりお選びいただけます。