Bị bắt vì cần sa tại Nhật: cải cách pháp luật tháng 12 năm 2024 đã thay đổi những gì
2026/09/02
Ở nước tôi thứ này hợp pháp. Tôi chỉ giữ hộ bạn chứ không phải của tôi. Tôi có cầm một ít nhưng chưa dùng bao giờ. Trong các vụ án cần sa, ba câu này lặp đi lặp lại gần như trong mọi buổi tư vấn.
Vấn đề là pháp luật Nhật Bản về cần sa đã thay đổi lớn kể từ ngày 12 tháng 12 năm 2024. Ai vẫn giữ hiểu biết cũ sẽ đánh giá sai hoàn toàn tình thế của mình. Và riêng ở khía cạnh tư cách lưu trú, mức độ nghiêm khắc của loại án này không thể so sánh với các tội danh khác.
Bài viết sẽ nói rõ: cải cách đã thay đổi điều gì, ý nghĩa thực tiễn của việc cần sa được xếp thành ma túy, và kết quả hình sự tác động thế nào tới việc bạn còn được ở lại hay quay lại Nhật hay không.
Ba thay đổi có hiệu lực từ ngày 12 tháng 12 năm 2024
Thứ nhất, Luật kiểm soát cần sa (大麻取締法) được đổi tên thành Luật về quản lý việc trồng cây cần sa (大麻草の栽培の規制に関する法律). Thứ hai, cần sa được xếp vào nhóm ma túy theo Luật kiểm soát ma túy và chất hướng thần (麻薬及び向精神薬取締法). Thứ ba, hành vi sử dụng cần sa, trước đây không có điều khoản xử phạt, nay đã trở thành một tội độc lập.
Tội sử dụng được quy định tại điều 66-2 Luật kiểm soát ma túy và chất hướng thần, với mức hình phạt kōkinkei (拘禁刑, hình phạt giam giữ theo luật hiện hành) đến 7 năm. Mức hình phạt cho hành vi tàng trữ đơn thuần cũng được nâng từ 5 năm lên 7 năm. Nói cách khác, không chỉ tàng trữ mà cả việc sử dụng nay đều bị xử lý, và khung hình phạt nói chung đã nặng lên.
Việc cần sa trở thành ma túy có ý nghĩa gì trên thực tế
Đây không chỉ là chuyện đổi tên điều luật. Trong giai đoạn điều tra, số vụ mà việc sử dụng được chứng minh bằng xét nghiệm nước tiểu hoặc giám định tóc sẽ tăng lên, bởi vì giờ đây chỉ riêng hành vi sử dụng cũng đủ để lập án, ngay cả khi không thu giữ được vật chứng nào.
Kết quả giám định vật bị thu giữ và việc thành phần đó thuộc nhóm quản lý nào cũng trở nên quan trọng hơn trước. Cần lưu ý rằng các chất được chỉ định theo Luật về dược phẩm và thiết bị y tế không nằm trong danh sách tội danh của điều 24 khoản 4 mục chi Luật nhập cư nói dưới đây. Vì vậy, việc đầu tiên cần xác định là vụ án được lập theo luật nào, điều nào.
Tác động tới tư cách lưu trú là phần nặng nhất
Điều 24 khoản 4 mục chi (mục thứ 8 của khoản 4) Luật quản lý xuất nhập cảnh và công nhận tị nạn quy định: người bị tuyên có tội vì vi phạm pháp luật liên quan tới ma túy, cần sa, thuốc phiện, ma túy đá và các chất tương tự thuộc diện bị trục xuất. Bị phạt tiền cũng thuộc diện này. Được hưởng án treo cũng thuộc diện này. Được miễn hình phạt cũng vậy. Tư cách lưu trú thuộc Bảng phụ lục 1 hay Bảng phụ lục 2 đều không tạo ra khác biệt.
Trong khi đó, điều 24 khoản 4 mục ri (mục thứ 9) chỉ áp dụng cho người bị tuyên tù chung thân hoặc kōkinkei trên 1 năm, và có phần trừ dành cho trường hợp toàn bộ hình phạt được cho hưởng án treo. Nhưng mục ri mở đầu bằng cụm từ ngoài những người được liệt kê từ mục ni đến mục chi, nghĩa là các vụ ma túy, kể cả cần sa, nằm ngoài phạm vi của mục ri và do đó không được hưởng phần trừ đó. Có án treo vẫn thuộc diện bị trục xuất.
Thêm nữa, điều 5 khoản 1 mục 5 của cùng luật quy định việc từ chối cho nhập cảnh vì vi phạm pháp luật về ma túy mà không ấn định thời hạn. Bị phạt tiền cũng đủ; vi phạm pháp luật của nước ngoài cũng có thể đủ. Khác với thời hạn từ chối nhập cảnh 1 năm, 5 năm, 10 năm gắn với tiền sử bị trục xuất tại mục 9 của cùng khoản, ở đây không có mốc thời gian nào để tự động hồi phục. Muốn quay lại Nhật chỉ còn con đường xin phép nhập cảnh đặc biệt theo điều 12 khoản 1.
Cuối cùng, lệnh xuất cảnh theo điều 24-3 đòi hỏi người đó không thuộc bất kỳ mục nào từ mục ha đến mục yo của khoản 4, nên người thuộc diện ma túy không thể dùng thủ tục này. Ngược lại, mục chi không nằm trong danh sách của phần trừ tại điều 50 khoản 1, nên con đường xin phép lưu trú đặc biệt vẫn còn. Khi đó, việc trình bày phải bám vào các yếu tố tại điều 50 khoản 5: lý do mong muốn ở lại, quan hệ gia đình, hạnh kiểm, hoàn cảnh dẫn tới việc cư trú tại Nhật, thời gian cư trú và các tình tiết khác.
Bốn hiểu lầm thường gặp
Thứ nhất, cho rằng ở nước mình hợp pháp thì ở Nhật cũng không sao. Hành vi thực hiện trên lãnh thổ Nhật Bản chịu sự điều chỉnh của pháp luật Nhật Bản.
Thứ hai, cho rằng phạm tội lần đầu và được án treo thì giữ được visa. Như đã nói, chính bản án có tội đã làm phát sinh căn cứ trục xuất. Theo Sách trắng tội phạm, năm 2024 tỷ lệ đình chỉ truy tố với các vụ liên quan tới cần sa là 35,5% và tỷ lệ được hưởng án treo toàn bộ là 84,2%. Tỷ lệ án treo cao không đồng nghĩa với việc tư cách lưu trú được bảo toàn.
Thứ ba, cho rằng giữ hộ thì không phải là tàng trữ. Nếu bạn nắm giữ trên thực tế với ý chí chi phối vật đó, hành vi vẫn có thể bị đánh giá là tàng trữ.
Thứ tư, cho rằng chưa sử dụng thì không có tội. Sau cải cách, sử dụng đã là tội riêng, còn tàng trữ thì thành lập không phụ thuộc vào việc có sử dụng hay không.
Sau khi bị bắt có thể làm gì
Điều 198 khoản 2 Bộ luật tố tụng hình sự quy định trước khi hỏi cung phải thông báo về quyền từ chối khai báo. Nếu biên bản không đúng với lời trình bày, khoản 4 cùng điều cho phép yêu cầu tăng, giảm, sửa đổi nội dung. Nếu lo ngại về tiếng Nhật, điều 175 và điều 178 quy định thủ tục chỉ định phiên dịch và người dịch thuật; điều 14 khoản 3 mục (a) và (f) Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị bảo đảm quyền được thông báo tội danh bằng ngôn ngữ mình hiểu và có phiên dịch miễn phí; điều 36 Công ước Viên về quan hệ lãnh sự quy định việc thông báo và tiếp xúc lãnh sự. Quyền gặp luật sư nằm ở điều 39 khoản 1.
Trọng tâm bào chữa thường là: có nhận thức về việc tàng trữ hay sử dụng hay không, thủ tục thu giữ có hợp pháp không, kết quả giám định có đáng tin không, có quan hệ đồng phạm không, và người bị buộc tội đã xây dựng được môi trường cụ thể nào để tách khỏi lệ thuộc. Gia đình nên sớm chuẩn bị người bảo lãnh, triển vọng tiếp tục làm việc hoặc đi học, và quan hệ với cơ sở y tế.
Cách văn phòng chúng tôi xử lý vụ việc
Luật sư Matsumura Daisuke trực tiếp thực hiện việc gặp thân chủ tại nơi giam giữ và trực tiếp trao đổi với gia đình. Về tiếng Trung, văn phòng có phiên dịch chuyên trách các vụ án người nước ngoài thường trực; với các ngôn ngữ khác, trong đó có tiếng Việt, chúng tôi thu xếp phiên dịch theo từng vụ việc.
Chúng tôi cho rằng một bản án treo vẫn chưa đủ, và đặt quyết định không truy tố làm mục tiêu ưu tiên hàng đầu. Trong các vụ ma túy, mục tiêu này càng nặng ký, bởi chính bản án có tội đã tạo ra căn cứ trục xuất. Vụ án hình sự và thủ tục nhập cư được thiết kế như một thể thống nhất, và chúng tôi giữ quan điểm tranh luận về yếu tố cố ý, lỗi ngay ở khâu xác định căn cứ trục xuất. Lần tư vấn đầu tiên miễn phí; có thể liên hệ qua WeChat ID matsumura1119.
Lời kết
Ngay sau khi một đạo luật thay đổi, thông tin cũ vẫn tiếp tục lan truyền. Với các vụ cần sa, khai báo dựa trên tiền đề cũ chính là tổn thất lớn nhất mà một người có thể tự gây ra cho mình. Bài viết này mang tính giải thích chung; với vụ việc cụ thể, xin trao đổi trực tiếp với luật sư.
Người viết
Matsumura Daisuke/Luật sư
Thuộc Đoàn luật sư Daiichi Tokyo (số đăng ký: 59077/đăng ký năm 2019)
Funado International Law Office (Fuse Building Honkan tầng 3, Takada 3-4-10, Toshima-ku, Tokyo)
Lĩnh vực tập trung là bào chữa hình sự cho người nước ngoài và thủ tục nhập cư, với thân chủ chủ yếu mang quốc tịch Trung Quốc. Có kinh nghiệm giành được bản án vô tội trong vụ vi phạm Luật kiểm soát ma túy đá (tàng trữ nhằm mục đích thương mại), quyết định không truy tố trong vụ lừa đảo có tổ chức, và giấy phép lưu trú đặc biệt trong vụ việc được coi là khó.
Funado International Law Office
Website: https://matsumura-lawoffice.jp/
WeChat ID: matsumura1119
Bản tiếng Nhật của bài viết này: https://matsumura-lawoffice.jp/blog/detail/2026099152/
----------------------------------------------------------------------
舟渡国際法律事務所
住所 : 東京都豊島区高田3丁目4-10布施ビル本館3階
電話番号 :050-7587-4639
東京を中心に刑事事件の弁護
----------------------------------------------------------------------