舟渡国際法律事務所

Bỏ nơi thực tập kỹ năng rồi cư trú quá hạn tại Nhật: nợ lương, quấy rối và giấy phép cư trú đặc biệt

お問い合わせはこちら

Bỏ nơi thực tập kỹ năng rồi cư trú quá hạn tại Nhật: nợ lương, quấy rối và giấy phép cư trú đặc biệt

Bỏ nơi thực tập kỹ năng rồi cư trú quá hạn tại Nhật: nợ lương, quấy rối và giấy phép cư trú đặc biệt

2026/08/27

Thời gian trôi đi sau khi bạn rời khỏi nơi thực tập, và đến lúc nhận ra thì thời hạn lưu trú đã hết trong khi bạn vẫn đang sống tại Nhật. Có thể lương đã không được trả đúng như đã hứa. Có thể đã có những lời lăng mạ hoặc bạo lực. Có thể bạn đã nhờ giúp đỡ nhưng không ai lắng nghe. Bạn rời nơi làm việc mang theo tất cả những điều đó, không biết phải làm gì tiếp theo, và ngày tháng cứ thế qua đi. Không ít người trong hoàn cảnh này thức trắng đêm, lo lắng chuyện gì sẽ xảy ra và biết nói thế nào với gia đình ở quê nhà. Bài viết này trình bày theo từng điều luật cách pháp luật Nhật Bản xử lý trường hợp thực tập sinh kỹ năng (技能実習生) rời nơi thực tập và rơi vào tình trạng cư trú bất hợp pháp, cùng những lựa chọn còn lại ở mỗi giai đoạn.

Rời nơi thực tập và để quá thời hạn lưu trú thì phạm tội gì

Việc ở lại Nhật quá thời hạn lưu trú mà không được gia hạn hoặc thay đổi tư cách lưu trú (在留資格) cấu thành tội cư trú bất hợp pháp theo Điều 70 khoản 1 mục 5 Luật Quản lý xuất nhập cảnh và công nhận tị nạn (入管法). Hình phạt luật định theo phần chính của khoản này là kōkinkei (拘禁刑, hình phạt giam giữ) đến 3 năm, hoặc phạt tiền đến 3 triệu yên, hoặc cả hai.

Cùng tình trạng đó cũng là căn cứ trục xuất (退去強制) theo Điều 24 mục 4 ロ. Nghĩa là nó có hai mặt cùng lúc: vừa là đối tượng của hình phạt hình sự, vừa là đối tượng của thủ tục buộc rời khỏi Nhật Bản. Hai thủ tục này tiến hành riêng biệt. Vì vậy, dù vụ án hình sự kết thúc bằng quyết định không truy tố (不起訴処分) hay bằng án treo, sự việc bạn thuộc Điều 24 mục 4 ロ vẫn không thay đổi, và thủ tục trục xuất vẫn tiếp tục. Suy nghĩ "được án treo nên có thể ở lại Nhật" là sai.

Nếu sau khi rời nơi thực tập bạn đã làm việc ở nơi khác, bạn có thể bị coi là chuyên làm những hoạt động không được tư cách lưu trú cho phép, khi đó phát sinh vấn đề theo Điều 24 mục 4 イ và Điều 70 khoản 1 mục 4. Nếu bạn dùng thẻ cư trú mang tên người khác hoặc giấy tờ tùy thân giả, sẽ có thêm tội danh theo bộ luật hình sự, và điều đó có thể khiến bạn không dùng được chế độ lệnh xuất cảnh nói ở phần dưới.

Nếu rời nơi thực tập vì bị nợ lương hoặc bị quấy rối thì có bị coi là phạm tội không

Dù lý do rời nơi thực tập cấp bách đến đâu, nếu sau đó bạn ở lại Nhật quá thời hạn lưu trú thì tội theo Điều 70 khoản 1 mục 5 vẫn thành lập. Nhưng điều đó không có nghĩa là những hoàn cảnh ấy không có giá trị.

Trong thủ tục hình sự, việc vì sao bạn đi đến chỗ quá hạn là căn cứ quan trọng để đánh giá mức độ nghiêm trọng của hành vi. Lương không được trả khiến cuộc sống không thể duy trì, không chịu nổi bạo lực hay những lời mắng nhiếc dai dẳng, không được ai cho biết nơi có thể nhờ giúp đỡ: đó là những điều luật sư bào chữa phải chủ động nêu ra, cả cho việc kiểm sát viên lựa chọn cách xử lý lẫn cho mức hình phạt nếu bị truy tố.

Trong thủ tục xin được ở lại cũng vậy. Điều 50 khoản 5 quy định rằng khi xét giấy phép cư trú đặc biệt (在留特別許可), sẽ xem xét lý do mong muốn ở lại, quan hệ gia đình, nhân thân, hoàn cảnh dẫn đến việc nhập cảnh Nhật Bản, thời gian đã cư trú tại Nhật và địa vị pháp lý trong thời gian đó, sự việc trở thành lý do trục xuất, sự cần thiết của cân nhắc nhân đạo, ngoài ra còn xem xét tình hình trong và ngoài nước cùng ảnh hưởng đối với người cư trú bất hợp pháp tại Nhật và các tình tiết khác. Việc bị đối xử bất công tại nơi thực tập có thể được nêu ra như tình tiết liên quan đến "hoàn cảnh nhập cảnh", "sự việc trở thành lý do trục xuất" và "sự cần thiết của cân nhắc nhân đạo".

Chính vì thế mà tài liệu rất quan trọng. Bảng lương, ghi chép giờ làm, chứng từ chuyển tiền, trao đổi với nơi thực tập hoặc đoàn thể quản lý, giấy chứng nhận thương tích, hồ sơ đã tư vấn với Cơ quan giám sát tiêu chuẩn lao động hoặc Tổ chức thực tập kỹ năng người nước ngoài, số liên lạc của đồng nghiệp. Những thứ này mất dần theo thời gian. Ngoài ra, quyền đòi tiền lương chưa trả là quyền dân sự, tách biệt với việc bạn có tư cách lưu trú hay không, và không đương nhiên mất đi ngay cả khi bạn buộc phải rời Nhật.

"Bỏ trốn khỏi nơi thực tập kỹ năng" được đánh giá thế nào khi xét giấy phép cư trú đặc biệt

Có một điểm cần nói cho chính xác. Trong các ví dụ về giấy phép cư trú đặc biệt do Cục Quản lý xuất nhập cảnh và lưu trú công bố, có những trường hợp có thể hiểu là việc đương sự rời nơi thực tập kỹ năng và mất liên lạc đã bị đánh giá như một tình tiết bất lợi. Cho rằng "vì có lý do đằng sau việc bỏ đi nên đương nhiên sẽ được đối xử có lợi" là không đúng.

Hướng dẫn về giấy phép cư trú đặc biệt (sửa đổi tháng 3 năm Reiwa 6, có hiệu lực từ ngày 10 tháng 6 năm Reiwa 6) xác định giấy phép cư trú đặc biệt là "biện pháp được thực hiện một cách ngoại lệ và mang tính ân huệ đối với người nước ngoài lẽ ra phải bị buộc rời khỏi Nhật Bản". Trên cơ sở đó, hướng dẫn nêu cách đánh giá theo từng tình tiết tại Điều 50 khoản 5, một mặt ghi rõ "việc người nước ngoài tự mình đến trình diện tại cơ quan quản lý xuất nhập cảnh và lưu trú địa phương để khai báo tình trạng cư trú bất hợp pháp" là yếu tố tích cực, mặt khác đánh giá tình trạng cư trú bất hợp pháp kéo dài là yếu tố tiêu cực.

Như vậy, việc phía sau chuyện rời nơi thực tập có nợ lương hay quấy rối tự nó không quyết định kết luận, mà là một yếu tố được cân nhắc tổng hợp cùng các tình tiết khác. Điều quan trọng không phải chỉ trình bày như một lời phân trần, mà phải chứng minh bằng tài liệu khách quan và gắn nó với hoàn cảnh sinh sống sau đó (có làm việc hay không và làm gì, nơi ở, quan hệ gia đình, tình hình nộp thuế và bảo hiểm xã hội, nhân thân), để cho thấy xét toàn bộ thì đây là trường hợp nên được cho phép cư trú. Đó chính là trọng tâm công việc của luật sư.

Nếu thời hạn lưu trú chưa hết thì còn cách nào không

Có, và đó là thời điểm còn nhiều lựa chọn nhất. Rời nơi thực tập không có nghĩa là thời hạn lưu trú lập tức biến mất. Tuy nhiên, nếu bạn không còn thực hiện hoạt động tương ứng với tư cách lưu trú được cấp, bạn có thể trở thành đối tượng bị hủy bỏ tư cách lưu trú theo Điều 22-4. Thủ tục hủy bỏ có dành cơ hội trình bày ý kiến, và tùy hoàn cảnh có thể chỉ định một khoảng thời gian để xuất cảnh. Nếu vẫn ở lại sau khi bị hủy bỏ, có thể thuộc Điều 70 khoản 1 mục 3, mục 3-2 và mục 3-3.

Nếu nguyên nhân nằm ở phía nơi thực tập, việc tư vấn với đoàn thể quản lý, Tổ chức thực tập kỹ năng người nước ngoài hoặc Cơ quan giám sát tiêu chuẩn lao động có thể mở ra hướng giải quyết bao gồm cả việc chuyển nơi thực tập. Các thủ tục này cần sự tham gia của các cơ quan liên quan và mất thời gian, nhưng việc bạn có bắt đầu hành động khi còn trong thời hạn lưu trú hay không sẽ thay đổi rất nhiều phạm vi lựa chọn còn lại về sau. Ngay cả khi thời hạn đã qua, vẫn còn những cách có thể làm như trình bày dưới đây.

Nếu về nước bằng lệnh xuất cảnh thì có thể quay lại Nhật không

Nếu sử dụng được chế độ lệnh xuất cảnh (出国命令), thời gian bị từ chối nhập cảnh về nguyên tắc là 1 năm kể từ ngày xuất cảnh (Điều 5 khoản 1 mục 9 ホ). Đây là khác biệt lớn so với 5 năm hoặc 10 năm trong trường hợp bị trục xuất. Tuy nhiên, để thuộc đối tượng của lệnh xuất cảnh, phải đáp ứng đủ cả năm điều kiện tại Điều 24-3.

  • Mục 1: trước khi bắt đầu điều tra vi phạm theo Điều 27, đã tự mình đến trình diện tại cơ quan quản lý xuất nhập cảnh và lưu trú với ý định xuất cảnh sớm (イ); hoặc sau khi điều tra vi phạm bắt đầu nhưng trước khi nhận thông báo theo Điều 47 khoản 3, đã bày tỏ với thẩm tra viên nhập cảnh hoặc nhân viên cảnh bị nhập cảnh rằng có ý định xuất cảnh sớm (ロ).
  • Mục 2: không thuộc bất kỳ trường hợp nào tại Điều 24 mục 3 đến mục 3-5, mục 4 từ ハ đến ヨ, mục 8 hoặc mục 9.
  • Mục 3: sau khi vào Nhật, không bị tuyên kōkinkei vì các tội được liệt kê tại Điều 24-3 mục 3, gồm xâm nhập chỗ ở, làm tiền giả, làm giả tài liệu, làm giả chứng khoán có giá, tội về dữ liệu điện từ của thẻ thanh toán, đánh bạc, giết người, cố ý gây thương tích, bắt giữ giam người trái phép, bắt cóc và mua bán người, trộm cắp và cướp, lừa đảo và cưỡng đoạt, tội về tài sản do phạm tội mà có, cùng một số tội theo Luật xử phạt hành vi bạo lực, Luật phòng ngừa trộm cắp, Luật cấm sở hữu dụng cụ mở khóa đặc biệt và Luật xử phạt hành vi gây chết hoặc bị thương do lái xe.
  • Mục 4: trước đây chưa từng bị trục xuất khỏi Nhật Bản, cũng chưa từng xuất cảnh theo lệnh xuất cảnh quy định tại Điều 55-85 khoản 1.
  • Mục 5: được dự liệu chắc chắn rằng sẽ rời Nhật Bản sớm.

Khi lệnh xuất cảnh được ban hành, thẩm tra viên chủ nhiệm sẽ ra lệnh xuất cảnh sớm và ấn định thời hạn xuất cảnh trong phạm vi không quá 15 ngày (Điều 55-85 khoản 1). Có thể kèm theo các điều kiện như hạn chế nơi cư trú và phạm vi đi lại (Điều 55-85 khoản 3). Khác với thủ tục trục xuất, thủ tục này không lấy việc giam giữ làm tiền đề.

Cần lưu ý rằng イ và ロ của mục 1 dẫn đến kết quả khác nhau. Nếu chỉ bày tỏ ý định xuất cảnh sau khi điều tra vi phạm đã bắt đầu (ロ), thì khi sau này muốn sang Nhật với hoạt động lưu trú ngắn hạn, thời gian bị từ chối nhập cảnh sẽ thành 5 năm kể từ ngày xuất cảnh (Điều 5 khoản 1 mục 9 ヘ). Nếu không dùng được lệnh xuất cảnh và bị trục xuất, thời gian là 5 năm kể từ ngày bị buộc rời đi nếu trước đó chưa từng bị trục xuất hay xuất cảnh theo lệnh xuất cảnh (Điều 5 khoản 1 mục 9 ハ), và là 10 năm nếu đã từng (Điều 5 khoản 1 mục 9 ニ). Nếu từng bị xử phạt vì vi phạm pháp luật liên quan đến ma túy, theo Điều 5 khoản 1 mục 5 sẽ bị từ chối nhập cảnh không có thời hạn ấn định.

Có thể xin giấy phép cư trú đặc biệt từ khi nào

Chỉ có thể nộp đơn xin giấy phép cư trú đặc biệt khi đã bị thu dung theo lệnh thu dung, hoặc khi đã có quyết định áp dụng biện pháp giám sát (Điều 50 khoản 2). Trước thời điểm đó, hoạt động không mang hình thức "nộp đơn" mà là nộp tài liệu và trình bày ý kiến đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện thẩm quyền của mình. Và sau khi lệnh trục xuất đã được ban hành thì không thể nộp đơn nữa (Điều 50 khoản 3). Thời điểm xét cũng được quy định: chỉ sau khi đã chấp nhận kết luận của thẩm tra viên nhập cảnh (Điều 47 khoản 3) hoặc phán định của thẩm tra viên đặc biệt (Điều 48 khoản 8), hoặc sau khi Bộ trưởng Bộ Tư pháp ra quyết định rằng khiếu nại không có căn cứ, thì mới có thể cấp giấy phép cư trú đặc biệt (Điều 50 khoản 4). Trình tự thủ tục là: điều tra vi phạm (Điều 27 trở đi), lệnh thu dung (Điều 39) hoặc quyết định biện pháp giám sát (Điều 44-2 khoản 7), thẩm tra vi phạm (Điều 45 trở đi), kết luận (Điều 47 khoản 3), yêu cầu thẩm vấn bằng lời (Điều 48), phán định (Điều 48 khoản 8), khiếu nại lên Bộ trưởng Bộ Tư pháp (Điều 49), quyết định, và cuối cùng là giấy phép cư trú đặc biệt (Điều 50) hoặc ban hành lệnh trục xuất (Điều 51).

Có một điểm có lợi cho bạn. Trong trường hợp sau khi rời nơi thực tập chỉ có vấn đề cư trú bất hợp pháp, thì điều kiện nghiêm ngặt hơn tại phần "nhưng" của Điều 50 khoản 1 không được áp dụng. Phần đó áp dụng với người bị tuyên kōkinkei chung thân hoặc trên 1 năm (trừ người được hưởng án treo toàn bộ, và người được hưởng án treo một phần mà phần không được hoãn thi hành từ 1 năm trở xuống) cùng một số nhóm khác, và giới hạn việc cho phép ở "trường hợp được nhận thấy có tình tiết đặc biệt mà việc không cho phép cư trú tại Nhật Bản sẽ bị coi là thiếu cân nhắc nhân đạo". Cư trú bất hợp pháp thuộc Điều 24 mục 4 ロ và không nằm trong phạm vi điều kiện nghiêm ngặt đó. Đây là điểm xuất phát có lợi. Ngược lại, nếu sau khi rời nơi thực tập bạn bị tuyên án tù giam thực tế trên 1 năm vì trộm cắp, lừa đảo hay tương tự, thì điều kiện đó sẽ được áp dụng và triển vọng trở nên khó khăn hơn nhiều. Chính vì thế, hoạt động làm nhẹ hình phạt hình sự và hoạt động xin giấy phép cư trú đặc biệt phải được thiết kế cùng nhau ngay từ những bước đầu. Ngoài ra, khi ra quyết định không cấp giấy phép cư trú đặc biệt, cơ quan phải nhanh chóng thông báo bằng văn bản có nêu lý do (Điều 50 khoản 10).

Ý nghĩa của việc tự mình hành động trước khi bị phát hiện

Trong các vụ việc của người đã rời nơi thực tập, lựa chọn phổ biến là không làm gì cho đến khi bị cảnh sát hoặc cơ quan quản lý xuất nhập cảnh phát hiện. Vì sợ nơi thực tập hoặc đoàn thể quản lý bị liên lạc, hoặc sợ bị buộc về nước, nên chỉ có thời gian trôi qua. Nhưng cơ chế pháp luật được xây dựng theo hướng có lợi cho người tự đến trình diện hơn là cho người chờ đợi.

Như đã nêu ở trên, thời gian bị từ chối nhập cảnh chia thành 1 năm (Điều 5 khoản 1 mục 9 ホ), 5 năm (cùng mục 9 ヘ và ハ) và 10 năm (cùng mục 9 ニ). Điều tạo ra khác biệt đó là thời điểm trình diện: tự đến trước khi điều tra vi phạm bắt đầu (Điều 24-3 mục 1 イ), chỉ bày tỏ ý định xuất cảnh sau khi đã bắt đầu (cùng mục ロ), hay bị phát hiện và không đáp ứng được chính các điều kiện của lệnh xuất cảnh. Đó là yếu tố bạn vẫn có thể thay đổi từ hôm nay, và nó trực tiếp quyết định khả năng quay lại Nhật.

Thêm nữa, hướng dẫn coi việc tự đến trình diện là yếu tố tích cực, đồng thời coi tình trạng cư trú bất hợp pháp kéo dài là yếu tố tiêu cực. Thời gian bạn sống mà không cho biết nơi ở sau khi rời nơi thực tập càng dài, thì cả hai đánh giá này càng chuyển theo hướng bất lợi, và việc chứng minh mình từng bị đối xử bất công tại nơi thực tập cũng càng khó. Hành động càng sớm thì càng có nhiều điều để trình bày. Tuy vậy, việc trình diện nên được thực hiện sau khi đã chuẩn bị. Nói gì, vào lúc nào, kèm theo tài liệu gì sẽ làm thay đổi diễn tiến của thủ tục về sau, nên chúng tôi khuyên bạn tư vấn luật sư và xác định phương hướng trước khi đi.

Giới thiệu về văn phòng chúng tôi

Văn phòng Luật sư Quốc tế Funado đặt tại tầng 3 tòa nhà chính Fuse, 3-4-10 Takada, quận Toshima, Tokyo. Luật sư Matsumura Daisuke lấy bào chữa hình sự cho người nước ngoài, chủ yếu là thân chủ mang quốc tịch Trung Quốc, và các thủ tục nhập cư làm lĩnh vực trọng tâm.

Điểm đặc trưng của văn phòng là luật sư Matsumura trực tiếp phụ trách toàn bộ các khâu, từ lần tiếp xúc đầu tiên tại nơi giam giữ cho đến khi kết thúc phiên tòa. Không giao lại cho nhân viên văn phòng hay luật sư trẻ. Hoàn cảnh dẫn đến việc rời nơi thực tập và cách bạn đã bị đối xử ở đó là những điều mà phần lớn chỉ chính bạn mới nói ra được, không thể đưa vào văn bản qua lời kể lại. Về tiếng Trung, văn phòng có phiên dịch chuyên trách thường trực; đối với các ngôn ngữ khác, chúng tôi bố trí phiên dịch tùy theo từng vụ việc. Nhờ đó, ngoài phiên dịch do cơ quan điều tra chỉ định, bạn có thể sử dụng phiên dịch đứng ở vị trí làm việc vì chính bạn. Việc gia hạn hoặc thay đổi tư cách lưu trú sau khi thủ tục hình sự kết thúc được xử lý trọn gói cùng hành chính thư sĩ hợp tác.

Xin giới thiệu hai vụ việc đã giải quyết. Thứ nhất, một thân chủ sang Nhật với mục đích du lịch đã có con với một phụ nữ Nhật Bản, nhưng mất tư cách lưu trú và bị bắt, bị truy tố vì cư trú bất hợp pháp. Thủ tục kết hôn và nhận cha con chưa hoàn tất nên ban đầu bị từ chối tiếp nhận; sau khi thương lượng với cơ quan chức năng từ góc độ hiến pháp để hoàn tất cả hai, cùng với việc phân tích các trường hợp đã được cấp phép trước đây, giấy phép cư trú đặc biệt đã đạt được chỉ trong một lần thủ tục.

Thứ hai, là vụ việc của một phụ nữ bị oan sai, bị truy cứu tội tiếp tay cho lao động bất hợp pháp và đứng trước nguy cơ bị trục xuất. Trước thực tiễn lâu nay cho rằng "căn cứ trục xuất không đòi hỏi cố ý hay vô ý", văn phòng đã khởi kiện để đặt câu hỏi về phạm vi của nguyên tắc trách nhiệm cá nhân và tranh tụng đến cấp phúc thẩm. Sau đó, cơ quan quản lý xuất nhập cảnh đã chấp thuận cấp giấy phép cư trú đặc biệt.

Buổi tư vấn đầu tiên miễn phí. Chi phí được báo giá tùy theo từng vụ việc.

Lời kết

Việc rời nơi thực tập và ở quá thời hạn lưu trú là tội cư trú bất hợp pháp theo Điều 70 khoản 1 mục 5, đồng thời là căn cứ trục xuất theo Điều 24 mục 4 ロ. Nhưng từ đây trở đi diễn tiến thế nào lại phụ thuộc vào cách bạn hành động. Thời điểm trình diện chia thời gian bị từ chối nhập cảnh thành 1 năm, 5 năm hay 10 năm, còn việc chuẩn bị tài liệu chính là căn cứ để xét giấy phép cư trú đặc biệt. Chuyện nợ lương và quấy rối tại nơi thực tập cũng chỉ thực sự có sức nặng khi được chuyển thành tài liệu đúng cách.

Bài viết này là giải thích mang tính chung. Với vụ việc cụ thể của bạn, xin hãy trực tiếp tư vấn luật sư. Ngoài ra, các vụ việc đã giải quyết trước đây dựa trên hoàn cảnh riêng của từng vụ và không bảo đảm sẽ có kết quả tương tự.

Tác giả

Matsumura Daisuke / Luật sư

Thuộc Đoàn Luật sư Daiichi Tokyo (số đăng ký: 59077 / đăng ký năm 2019)

Văn phòng Luật sư Quốc tế Funado (tầng 3 tòa nhà chính Fuse, 3-4-10 Takada, quận Toshima, Tokyo)

Lấy bào chữa hình sự cho người nước ngoài, chủ yếu là thân chủ mang quốc tịch Trung Quốc, và các thủ tục nhập cư làm lĩnh vực trọng tâm.

Có các kết quả đã đạt được như bản án vô tội trong vụ vi phạm Luật kiểm soát chất kích thích (tàng trữ nhằm mục đích thu lợi), quyết định không truy tố trong vụ lừa đảo đặc biệt, và đạt được giấy phép cư trú đặc biệt trong những vụ được coi là khó.

Liên hệ

Văn phòng Luật sư Quốc tế Funado

Website: https://matsumura-lawoffice.jp/

WeChat ID: matsumura1119

Các phiên bản ngôn ngữ khác của bài viết này

日本語 / 简体中文 / 繁體中文 / English / 한국어

----------------------------------------------------------------------
舟渡国際法律事務所
住所 : 東京都豊島区高田3丁目4-10布施ビル本館3階
電話番号 :050-7587-4639


東京を中心に刑事事件の弁護

----------------------------------------------------------------------

当店でご利用いただける電子決済のご案内

下記よりお選びいただけます。