舟渡国際法律事務所

Quá hạn lưu trú tại Nhật: vì sao cần nhắm tới quyết định không truy tố khi xin phép lưu trú đặc biệt

お問い合わせはこちら

Quá hạn lưu trú tại Nhật: vì sao cần nhắm tới quyết định không truy tố khi xin phép lưu trú đặc biệt

Quá hạn lưu trú tại Nhật: vì sao cần nhắm tới quyết định không truy tố khi xin phép lưu trú đặc biệt

2026/08/27

Nếu bạn đang ở lại Nhật Bản sau khi thời hạn lưu trú đã hết, có thể sẽ đến một ngày cảnh sát liên lạc với bạn, hoặc bạn tự mình đến cơ quan quản lý xuất nhập cảnh để trình diện. Từ thời điểm đó, hai thủ tục thường bắt đầu chạy song song: thủ tục hình sự và thủ tục nhập cư. Nhiều người hỏi chúng tôi rằng bên nhập cư có tự nhiên kết thúc khi vụ án hình sự khép lại hay không. Câu trả lời là không. Đây là hai tuyến thủ tục độc lập, tiến hành song song và ảnh hưởng lẫn nhau rất mạnh. Nếu chỉ nhìn một bên mà hành động, kết quả giành được ở bên này có thể trở thành bất lợi ở bên kia. Bài viết này trình bày mức độ nặng nhẹ của chế tài hình sự tác động trực tiếp thế nào đến khuôn khổ xét cấp phép lưu trú đặc biệt, và vì sao ngay từ bước đầu tiên phải thiết kế hai thủ tục như một thể thống nhất.

Nếu vụ án hình sự được đình chỉ truy tố thì tôi có được ở lại Nhật Bản không

Không. Quyết định không truy tố (不起訴処分) là phán đoán của công tố viên về việc không truy cứu trách nhiệm hình sự, chứ không khôi phục tư cách lưu trú (在留資格) đã mất. Bản thân việc ở lại Nhật Bản sau khi thời hạn lưu trú đã hết đã cấu thành căn cứ trục xuất (退去強制事由) theo Điều 24 khoản mục (iv)(b) của Luật Quản lý xuất nhập cảnh và công nhận tị nạn (入管法). Dù kết quả hình sự ra sao, sự thật đó vẫn không biến mất.

Vì vậy, thủ tục nhập cư vẫn tiếp tục theo tuyến riêng: điều tra vi phạm (Điều 27 và tiếp theo), tạm giữ theo lệnh thu dung (Điều 39) hoặc quyết định áp dụng biện pháp giám lý (Điều 44-2 khoản 7), thẩm tra vi phạm của thẩm tra quan nhập quốc (Điều 45 và tiếp theo) và kết luận nhận định (Điều 47 khoản 3); nếu không phục thì yêu cầu thẩm vấn bằng lời (Điều 48) và phán định của đặc biệt thẩm lý quan (Điều 48 khoản 8); nếu vẫn không phục thì khiếu nại lên Bộ trưởng Bộ Tư pháp (Điều 49). Sau đó mới quyết định cấp phép lưu trú đặc biệt (在留特別許可, Điều 50) hay ban hành lệnh trục xuất (Điều 51). Kết luận hình sự không quyết định kết luận nhập cư, và chính vì không quyết định nên những gì bạn làm trong giai đoạn hình sự sẽ hiện ra về sau.

Vậy tại sao vẫn phải hướng tới quyết định không truy tố

Bởi vì mức độ nặng nhẹ của chế tài hình sự làm thay đổi chính khuôn khổ xét cấp phép lưu trú đặc biệt. Có bốn lý do.

  • Để tránh điều kiện gia trọng ở phần trừ của Điều 50 khoản 1. Nếu bị tuyên phạt tù chung thân hoặc kōkinkei (拘禁刑, hình phạt giam giữ) trên 1 năm, phép lưu trú đặc biệt chỉ được cấp khi xét thấy có tình tiết đặc biệt đến mức việc không cho phép lưu trú là thiếu cân nhắc về nhân đạo. Ngưỡng xét duyệt nâng lên hẳn một bậc.
  • Vì Điều 50 khoản 5 ghi rõ hạnh kiểm là một yếu tố phải cân nhắc. Khoản này quy định phải cân nhắc lý do mong muốn lưu trú, quan hệ gia đình, hạnh kiểm, hoàn cảnh nhập cảnh Nhật Bản, thời gian đã lưu trú và địa vị pháp lý trong thời gian đó, sự việc trở thành lý do trục xuất, sự cần thiết của cân nhắc nhân đạo, cùng tình hình trong và ngoài nước và ảnh hưởng đối với những người cư trú bất hợp pháp tại Nhật Bản.
  • Vì thời gian bị giam giữ càng kéo dài thì thời gian và phương tiện chuẩn bị hồ sơ càng ít. Trong khi tự do thân thể bị hạn chế, bạn không thể tự mình xin giấy tờ công từ nước mình hay chứng minh quan hệ gia đình.
  • Vì chế tài hình sự đã được cài vào điều kiện của lệnh xuất cảnh. Điều 24-3 đặt ra điều kiện là người đó không bị tuyên kōkinkei về một số tội danh nhất định, gồm xâm nhập chỗ ở, làm giả tiền tệ, văn bản, chứng khoán và thẻ thanh toán, đánh bạc, giết người, gây thương tích, bắt giữ giam người trái phép, bắt cóc dụ dỗ, trộm cắp cướp tài sản, lừa đảo cưỡng đoạt và các tội liên quan đến tài sản do phạm tội mà có.

Được hưởng án treo thì có tránh được trục xuất không

Không. Đây là chỗ bị hiểu lầm nhiều nhất. Điều 24 khoản mục (iv)(i) coi người bị tuyên tù chung thân hoặc kōkinkei trên 1 năm là thuộc căn cứ trục xuất, nhưng loại trừ rõ ràng người được tuyên treo toàn bộ hình phạt, và người được tuyên treo một phần mà phần không được hưởng án treo từ 1 năm trở xuống. Do đó, bản án 1 năm 6 tháng cho hưởng án treo 3 năm vì lưu trú quá hạn không thuộc mục (iv)(i).

Nhưng điều đó không có nghĩa là thủ tục trục xuất chấm dứt, bởi người lưu trú quá hạn vốn đã thuộc căn cứ trục xuất ngay từ đầu theo Điều 24 khoản mục (iv)(b). Ý nghĩa thật sự của án treo không nằm ở chỗ thoát khỏi căn cứ trục xuất, mà ở chỗ giữ được trạng thái không bị ràng buộc bởi điều kiện gia trọng của phần trừ tại Điều 50 khoản 1. Các vi phạm về ma túy được xử lý khác: Điều 24 khoản mục (iv)(h) coi người bị kết án có tội về vi phạm pháp luật liên quan đến ma túy là thuộc căn cứ trục xuất, kể cả khi hình phạt là tiền hoặc được hưởng án treo; và việc từ chối nhập cảnh theo Điều 5 khoản 1 mục (v) không có giới hạn về thời hạn.

Nếu bị án tù giam thì triển vọng xin phép lưu trú đặc biệt thay đổi ra sao

Nếu bị tuyên tù chung thân hoặc kōkinkei trên 1 năm không được hưởng án treo, phần trừ của Điều 50 khoản 1 sẽ được áp dụng, và phép lưu trú đặc biệt chỉ được cấp khi có tình tiết đặc biệt đến mức việc không cho phép lưu trú bị coi là thiếu cân nhắc về nhân đạo. Đây không còn là việc cân nhắc thông thường giữa các yếu tố, mà đòi hỏi mức độ lập luận cao hơn hẳn.

Ngược lại, vụ việc chỉ liên quan đến lưu trú quá hạn (Điều 24 khoản mục (iv)(b)) không thuộc đối tượng của điều kiện gia trọng đó, và trên thực tiễn đây là tình tiết có lợi rất đáng kể. Khi ấy, phép lưu trú đặc biệt được xem xét theo Điều 50 khoản 1 mục (v), tức trường hợp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thấy có tình tiết khác đáng để đặc biệt cho phép lưu trú, và công việc trọng tâm là lấp đầy từng yếu tố ở Điều 50 khoản 5 bằng chứng cứ. Vì vậy, mục tiêu của bào chữa hình sự không thể chỉ dừng ở có tội hay vô tội. Không truy tố là mục tiêu hàng đầu; nếu khó đạt được thì hướng tới phạt tiền hoặc án treo toàn bộ; và ngay cả khi buộc phải đối mặt với án giam cũng phải đặt trần thời hạn hình phạt vào tầm nhìn, bởi lằn ranh 1 năm chính là ranh giới phân chia khuôn khổ xét duyệt của cơ quan nhập cư.

Thủ tục hình sự và thủ tục nhập cư nối với nhau ở đâu

Có nhiều điểm nối. Trước hết là nội dung bản khai (供述調書) được lập trong giai đoạn điều tra. Những lời khai về quá trình lưu trú, có làm việc hay không, quan hệ gia đình, ý định về nước hay không, sẽ được dùng làm tài liệu tiền đề trong thủ tục nhập cư sau này. Một câu ký tên tại phòng hỏi cung mà chưa được xác nhận đầy đủ qua phiên dịch có thể tồn tại như một sự thật bất lợi.

Tiếp theo là thời điểm phát sinh quyền nộp đơn. Điều 50 khoản 2 quy định đơn xin phép lưu trú đặc biệt do người nước ngoài đã bị thu dung theo lệnh thu dung, hoặc người đã nhận quyết định áp dụng biện pháp giám lý, nộp lên. Trước giai đoạn đó, việc bạn làm không phải là nộp đơn, mà là đề nghị cơ quan có thẩm quyền hành động theo thẩm quyền của mình.

Thứ ba là thời hạn. Điều 50 khoản 3 quy định sau khi lệnh trục xuất đã được ban hành thì không thể nộp đơn nữa, và Điều 50 khoản 4 quy định phép lưu trú đặc biệt chỉ có thể được cấp sau khi đương sự chấp nhận kết luận nhận định theo Điều 47 khoản 3 hoặc phán định theo Điều 48 khoản 8, hoặc sau khi Bộ trưởng Bộ Tư pháp ra quyết định rằng khiếu nại không có căn cứ. Cửa sổ xét duyệt chỉ mở trong một khoảng thời gian hạn chế; sau khi lệnh trục xuất được ban hành, vụ việc chuyển sang lĩnh vực cứu trợ tư pháp là khởi kiện hủy quyết định hành chính và đề nghị tạm đình chỉ thi hành. Thủ tục giam giữ hình sự vẫn đang chạy trong khi các mốc thời hạn bên nhập cư đã đi trước, và đọc đúng khoảng lệch thời gian này là điểm quan trọng nhất trên thực tiễn.

Thiết kế thống nhất hai thủ tục nghĩa là làm những gì

Nghĩa là tổ chức đồng thời những công việc sau, sao cho mỗi việc đều có tác dụng cho cả hai bên.

  • Xác định thứ tự mục tiêu trước. Đặt không truy tố làm mục tiêu số một, lựa chọn kế tiếp là phạt tiền hoặc án treo toàn bộ, và ngay cả khi phải đối mặt với án giam thì cũng có ý thức giữ trong phạm vi không quá 1 năm.
  • Thiết kế nội dung lời khai và bảo đảm phiên dịch. Xuất phát từ tiền đề rằng những gì nói trong phòng hỏi cung sẽ trở thành tài liệu của cơ quan nhập cư. Đó chính là ý nghĩa của việc có phiên dịch làm việc cho chính đương sự, tách biệt với phiên dịch do cơ quan điều tra chỉ định.
  • Thu thập chứng cứ dùng được cho cả hai mục đích. Giấy tờ chứng minh quan hệ hôn nhân và quan hệ cha mẹ con, tài liệu thể hiện thực tế đời sống, giấy tờ công lấy từ nước mình, vừa dùng làm tình tiết giảm nhẹ trong vụ án hình sự, vừa dùng để chứng minh quan hệ gia đình, thời gian lưu trú và sự cần thiết của cân nhắc nhân đạo theo Điều 50 khoản 5.
  • Tóm tắt trục thời gian trên một trang. Thời điểm nhập cảnh, thời điểm mất tư cách lưu trú, thời gian lưu trú, có làm việc hay không, quá trình hình thành gia đình, hoàn cảnh tự trình diện hay bị phát hiện, tất cả được sắp xếp dưới hình thức không gây tranh cãi.
  • Tính trước bước tiếp theo nếu bị từ chối. Điều 50 khoản 10 quy định khi ra quyết định không cấp phép lưu trú đặc biệt thì phải nhanh chóng thông báo bằng văn bản có nêu lý do. Vì lý do phải được ghi bằng văn bản, có thể lấy đó làm điểm xuất phát để xây dựng lập luận cho bước kế tiếp.

Chủ động hành động trước khi bị phát hiện có ý nghĩa gì

Nhìn từ góc độ thiết kế thống nhất, việc tự trình diện có ý nghĩa kép. Thứ nhất là về chế tài hình sự. Theo Điều 70 khoản 1 mục (v) và phần chính của khoản đó, hình phạt luật định đối với lưu trú quá hạn là như nhau bất kể thời gian quá hạn dài hay ngắn: kōkinkei đến 3 năm hoặc phạt tiền đến 3 triệu yên, hoặc áp dụng cả hai. Hình phạt luật định là thống nhất; cái thay đổi là lựa chọn xử lý của công tố viên và biên độ lượng hình. Thời gian lưu trú càng dài, càng kèm theo lao động bất hợp pháp hoặc vi phạm khác thì càng nghiêng về hướng nặng; trường hợp thời gian tương đối ngắn, đương sự tự trình diện, nền tảng cuộc sống và quan hệ gia đình rõ ràng thì dễ nghiêng về hướng nhẹ hơn. Tuy nhiên đây chỉ là xu hướng, kết quả cụ thể có biên độ khác nhau tùy vụ việc.

Thứ hai là về thủ tục nhập cư. Hướng dẫn về phép lưu trú đặc biệt (sửa đổi tháng 3 năm 2024, có hiệu lực từ ngày 10 tháng 6 năm 2024) xác định phép lưu trú đặc biệt là biện pháp mang tính ngoại lệ và ân huệ dành cho người nước ngoài lẽ ra phải bị trục xuất, đồng thời ghi rõ rằng việc đương sự tự đến cơ quan quản lý xuất nhập cảnh địa phương để khai báo tình trạng cư trú bất hợp pháp của mình được cân nhắc như một yếu tố tích cực. Ngược lại, tình trạng cư trú bất hợp pháp kéo dài bị đánh giá là yếu tố tiêu cực.

Ngoài ra, khi lựa chọn xuất cảnh cũng phát sinh khác biệt. Điều 24-3 phân biệt giữa người tự đến cơ quan quản lý xuất nhập cảnh trình diện với ý định rời Nhật Bản nhanh chóng, trước khi cuộc điều tra vi phạm bắt đầu (mục (i)(a)), và người bày tỏ ý định rời Nhật Bản sau khi điều tra vi phạm đã bắt đầu nhưng trước khi nhận thông báo theo Điều 47 khoản 3 (mục (i)(b)). Ngoài ra còn phải thỏa mãn các điều kiện như trước đây chưa từng bị trục xuất khỏi Nhật Bản và chưa từng xuất cảnh theo lệnh xuất cảnh, và được dự liệu chắc chắn sẽ rời Nhật Bản nhanh chóng. Khi ban hành lệnh xuất cảnh, chủ nhiệm thẩm tra quan ấn định thời hạn xuất cảnh không quá 15 ngày (Điều 55-85 khoản 1).

Khác biệt đó thể hiện ở thời gian cho tới khi bạn có thể quay lại Nhật Bản. Người xuất cảnh theo lệnh xuất cảnh bị từ chối nhập cảnh trong 1 năm kể từ ngày xuất cảnh (Điều 5 khoản 1 mục (ix)(e)), nhưng người thuộc Điều 24-3 mục (i)(b) sau khi xuất cảnh theo lệnh xuất cảnh, nếu muốn nhập cảnh lại để thực hiện hoạt động lưu trú ngắn hạn thì thời hạn là 5 năm (mục (ix)(f)). Trường hợp bị phát hiện, không đáp ứng điều kiện và cuối cùng bị trục xuất, thời hạn là 5 năm nếu trước đó chưa từng bị trục xuất hay xuất cảnh theo lệnh xuất cảnh (mục (ix)(c)), và 10 năm nếu đã từng (mục (ix)(d)).

Giới thiệu về văn phòng chúng tôi

Văn phòng Luật sư Quốc tế Funado (Tầng 3, tòa nhà Fuse, khu chính, 3-4-10 Takada, quận Toshima, Tokyo) lấy bào chữa hình sự cho người nước ngoài và thủ tục nhập cư làm lĩnh vực trọng tâm, chủ yếu cho thân chủ mang quốc tịch Trung Quốc. Luật sư Matsumura Daisuke (thuộc Đoàn Luật sư Daiichi Tokyo, số đăng ký 59077, đăng ký năm 2019) trực tiếp phụ trách toàn bộ các bước, từ lần tiếp xúc đầu tiên tại nơi giam giữ cho tới khi kết thúc tranh tụng tại phiên tòa, không giao cho nhân viên văn phòng hay luật sư trẻ làm thay. Việc phương án bào chữa hình sự và lập luận trước cơ quan nhập cư được cùng một luật sư dựng lên trên cùng một bản thiết kế chính là tiền đề của cách thiết kế thống nhất mà bài viết này nói đến. Văn phòng có phiên dịch tiếng Trung chuyên trách, am hiểu các vụ việc liên quan đến người nước ngoài, thường trực tại văn phòng; đối với các ngôn ngữ khác, chúng tôi sắp xếp phiên dịch tùy theo yêu cầu của từng vụ việc. Việc gia hạn hoặc thay đổi tư cách lưu trú sau khi thủ tục hình sự kết thúc được xử lý trọn gói cùng với hành chính thư sĩ (行政書士) hợp tác.

  • Vụ việc đạt được phép lưu trú đặc biệt vốn được coi là rất khó, chỉ trong một lần thủ tục. Thân chủ nhập cảnh với mục đích du lịch và có con với một phụ nữ Nhật Bản, nhưng mất tư cách lưu trú và bị bắt, bị truy tố vì cư trú bất hợp pháp. Khi đó thủ tục kết hôn và nhận cha con chưa hoàn tất và từng bị cơ quan chức năng không tiếp nhận. Luật sư Matsumura đã đàm phán với cơ quan chức năng từ góc độ hiến pháp, làm cho việc kết hôn và nhận cha con thành công, đồng thời tiến hành hỏi bị cáo và thẩm vấn nhân chứng với ý thức về phiên tòa hình sự. Trong hoàn cảnh hầu như không có giấy tờ công, văn phòng vẫn thu thập được chứng cứ có lợi, và bằng cách phân tích các vụ việc từng được cấp phép trong quá khứ, đã đạt được phép lưu trú đặc biệt chỉ trong một lần thủ tục.
  • Vụ việc cứu giúp người phụ nữ đứng trước nguy cơ bị trục xuất. Thân chủ bị quy kết oan về tội trợ giúp lao động bất hợp pháp và đứng trước nguy cơ bị trục xuất. Đối lại thực tiễn lâu nay cho rằng căn cứ trục xuất không đòi hỏi cố ý hay vô ý, văn phòng đã khởi kiện đặt vấn đề về phạm vi của nguyên tắc trách nhiệm và theo đuổi tới cấp phúc thẩm. Sau đó, cơ quan nhập cư đã chấp thuận cấp phép lưu trú đặc biệt.

Tư vấn lần đầu miễn phí. Chi phí được báo giá theo tình hình từng vụ việc. Trường hợp đương sự đang bị giam giữ, chúng tôi cũng tiếp nhận liên hệ từ gia đình ở nước nhà.

Lời kết

Chế tài hình sự nặng hay nhẹ, và việc bạn có tiếp tục được lưu trú tại Nhật Bản hay không, là hai vấn đề khác nhau. Nhưng khác nhau không có nghĩa là không liên quan. Chỉ riêng một điểm là bản án có phải là tù giam trên 1 năm hay không đã phân chia khuôn khổ xét cấp phép lưu trú đặc biệt, thông qua phần trừ của Điều 50 khoản 1. Chính vì vậy, công việc làm nhẹ chế tài hình sự và công việc giành phép lưu trú đặc biệt phải được thiết kế thống nhất ngay từ bước đầu tiên.

Bài viết này là giải thích mang tính chung. Với vụ việc cụ thể của bạn, xin hãy trực tiếp tham khảo ý kiến luật sư. Ngoài ra, các vụ việc đã giải quyết nêu trên dựa trên hoàn cảnh riêng của từng vụ và không bảo đảm sẽ có kết quả tương tự.

Tác giả

Matsumura Daisuke, Luật sư

Đoàn Luật sư Daiichi Tokyo (số đăng ký: 59077, đăng ký năm 2019)

Văn phòng Luật sư Quốc tế Funado (Tầng 3, tòa nhà Fuse, khu chính, 3-4-10 Takada, quận Toshima, Tokyo)

Lấy bào chữa hình sự cho người nước ngoài và thủ tục nhập cư làm lĩnh vực trọng tâm, chủ yếu cho thân chủ mang quốc tịch Trung Quốc.

Có các kết quả như bản án vô tội trong vụ vi phạm Luật kiểm soát chất kích thích (tàng trữ nhằm mục đích thu lợi), quyết định không truy tố trong vụ lừa đảo đặc thù, và phép lưu trú đặc biệt trong vụ việc được coi là rất khó.

Liên hệ

Văn phòng Luật sư Quốc tế Funado

Website: https://matsumura-lawoffice.jp/

WeChat ID: matsumura1119

Các phiên bản ngôn ngữ khác của bài viết này

日本語 / 简体中文 / 繁體中文 / English / 한국어

----------------------------------------------------------------------
舟渡国際法律事務所
住所 : 東京都豊島区高田3丁目4-10布施ビル本館3階
電話番号 :050-7587-4639


東京を中心に刑事事件の弁護

----------------------------------------------------------------------

当店でご利用いただける電子決済のご案内

下記よりお選びいただけます。