舟渡国際法律事務所

Cư trú quá hạn tại Nhật: 5 điều phải kiểm tra trước khi tự đến trình diện cơ quan xuất nhập cảnh

お問い合わせはこちら

Cư trú quá hạn tại Nhật: 5 điều phải kiểm tra trước khi tự đến trình diện cơ quan xuất nhập cảnh

Cư trú quá hạn tại Nhật: 5 điều phải kiểm tra trước khi tự đến trình diện cơ quan xuất nhập cảnh

2026/08/27

Những người vẫn đang sinh sống tại Nhật sau khi thời hạn lưu trú (在留期間) đã hết thường hỏi chúng tôi cùng một câu: “Tôi định đến cơ quan xuất nhập cảnh để tự khai báo, cứ thế đi có được không.” Việc tự mình đến cơ quan quản lý xuất nhập cảnh và lưu trú (出入国在留管理官署) để khai báo tình trạng cư trú bất hợp pháp, trong thực tiễn Nhật Bản gọi là xuất đầu thân cáo (出頭申告, tự nguyện trình diện khai báo), trong nhiều vụ việc đúng là lựa chọn có lợi cho đương sự. Tuy nhiên, đến quầy tiếp nhận mà không chuẩn bị gì thì không nên. Thủ tục sẽ khởi động ngay trong ngày quý vị trình diện, còn việc sau đó đi theo hướng nào lại phụ thuộc phần lớn vào những sự kiện đã tồn tại từ trước khi quý vị đến. Dưới đây là 5 điều cần xác nhận trước, kèm theo các điều luật tương ứng.

Vì sao phải kiểm tra trước khi đến cơ quan xuất nhập cảnh trình diện

Không phải để quyết định có nên đi hay không, mà để nhìn trước xem sau khi đi thì sẽ bước vào thủ tục nào. Cư trú quá hạn vừa là căn cứ trục xuất cưỡng chế (退去強制) theo Điều 24 khoản 4 mục ロ của Luật Quản lý xuất nhập cảnh và công nhận tị nạn (入管法), vừa là tội phạm theo Điều 70 khoản 1 mục 5, với hình phạt luật định là kōkinkei (拘禁刑, hình phạt giam giữ) đến 3 năm hoặc tiền phạt đến 3.000.000 yên, hoặc áp dụng đồng thời cả hai. Khi quý vị trình diện, thủ tục trục xuất cưỡng chế và thủ tục hình sự gần như khởi động cùng lúc. Và việc quý vị có dùng được lệnh xuất cảnh (出国命令, Điều 24-3), vốn không lấy việc thu dung làm tiền đề và cho phép rời Nhật trong thời gian ngắn, hay phải xin giấy phép lưu trú đặc biệt (在留特別許可, Điều 50) ngay trong thủ tục trục xuất, gần như đã được định đoạt bởi tiểu sử của chính quý vị và bởi những giấy tờ quý vị đang có trong tay.

Điều thứ nhất: quý vị đã từng bị trục xuất hoặc từng rời Nhật theo lệnh xuất cảnh chưa

Việc chưa từng bị cưỡng chế rời khỏi Nhật Bản và chưa từng xuất cảnh theo lệnh xuất cảnh quy định tại Điều 55-85 khoản 1 là một trong các điều kiện để được áp dụng lệnh xuất cảnh (Điều 24-3 mục 4). Chỉ cần có một lần như vậy trong hồ sơ, lần này quý vị không dùng được lệnh xuất cảnh nữa mà phải đi vào thủ tục trục xuất cưỡng chế, thủ tục có thể kèm theo việc bị thu dung.

Điểm này cũng quyết định khi nào quý vị được quay lại Nhật. Người bị trục xuất mà trước đó chưa từng bị trục xuất hay xuất cảnh theo lệnh xuất cảnh thì thời gian bị từ chối nhập cảnh (上陸拒否期間) là 5 năm kể từ ngày rời Nhật (Điều 5 khoản 1 mục 9 ハ); nếu đã có tiền lệ như vậy thì là 10 năm (cùng mục ニ). Nếu ký ức về lần ở Nhật trước đây không rõ ràng, xin hãy tìm lại dấu xuất nhập cảnh trên hộ chiếu và các giấy tờ đã nhận khi đó. Không hiếm trường hợp đương sự vẫn đinh ninh rằng lần ấy không phải là trục xuất, nhưng hồ sơ lại ghi nhận đúng là trục xuất.

Điều thứ hai: quý vị đã từng bị xử lý hình sự chưa

Tiền án tiền sự ảnh hưởng cùng lúc đến ba việc: có được áp dụng lệnh xuất cảnh hay không, giấy phép lưu trú đặc biệt được xét theo khung nào, và thời gian bị từ chối nhập cảnh dài bao lâu. Hãy rà soát cả những vụ chỉ kết thúc bằng tiền phạt hoặc bằng án treo toàn phần.

Về lệnh xuất cảnh, Điều 24-3 mục 3 đòi hỏi rằng sau khi nhập cảnh Nhật Bản, đương sự không bị tuyên hình phạt kōkinkei về các tội xâm nhập gia cư; làm giả tiền tệ, làm giả văn thư, làm giả chứng khoán có giá, làm giả bản ghi điện từ của thẻ dùng để thanh toán; đánh bạc; giết người; gây thương tích; bắt giữ giam người trái pháp luật; bắt cóc và dụ dỗ; trộm cắp và cướp; lừa đảo và cưỡng đoạt; hoặc tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có (Bộ luật Hình sự, Phần II, các Chương 12, 16 đến 19, 23, 26, 27, 31, 33, 36, 37 và 39), cũng như các tội theo Điều 1, Điều 1-2 và Điều 1-3 Luật Xử phạt hành vi bạo lực, Luật Phòng ngừa trộm cắp, Điều 15 và Điều 16 Luật Cấm sở hữu dụng cụ mở khóa đặc biệt, Điều 2 và Điều 6 khoản 1 Luật Xử phạt hành vi gây chết người hoặc thương tích do điều khiển ô tô, hoặc Điều 22 Luật Phòng ngừa việc định đoạt vật phẩm kim loại đặc định bị đánh cắp. Mục 2 của cùng Điều còn đòi hỏi đương sự không thuộc bất kỳ trường hợp nào tại Điều 24 mục 3 đến mục 3-5, hoặc khoản 4 các mục từ ハ đến ヨ.

Tiếp theo, bản án kết tội về vi phạm pháp luật liên quan đến ma túy vẫn là căn cứ trục xuất cưỡng chế theo Điều 24 khoản 4 mục チ, ngay cả khi chỉ bị tiền phạt và ngay cả khi được hưởng án treo toàn phần. Về nhập cảnh, Điều 5 khoản 1 mục 5 không đặt ra bất kỳ giới hạn thời gian nào, nghĩa là không có việc tự động hết hiệu lực theo năm tháng.

Ngoài ra, người bị tuyên hình phạt chung thân hoặc kōkinkei trên 1 năm (trừ người được hưởng án treo toàn phần, và người được hưởng án treo một phần mà phần không được hưởng án treo từ 1 năm trở xuống) thuộc Điều 24 khoản 4 mục リ. Khi đó, phần trừ của Điều 50 khoản 1 áp đặt thêm một điều kiện nặng hơn cho giấy phép lưu trú đặc biệt: chỉ được cấp khi xét thấy có tình tiết đặc biệt khiến việc không cho phép lưu trú tại Nhật Bản bị coi là thiếu sự cân nhắc về nhân đạo. Ngược lại, vụ việc chỉ đơn thuần là cư trú quá hạn (Điều 24 khoản 4 mục ロ) không thuộc phạm vi phần trừ này. Đây là một tình tiết có lợi rất quan trọng. Vì vậy, khi có vụ án hình sự tiến hành song song, hoạt động làm nhẹ xử lý hình sự và hoạt động xin được lưu trú phải được thiết kế đồng bộ ngay từ bước đầu tiên.

Điều thứ ba: lý do muốn ở lại Nhật có chứng minh được bằng tài liệu không

Các yếu tố được cân nhắc khi xét giấy phép lưu trú đặc biệt được quy định tại Điều 50 khoản 5: lý do mong muốn lưu trú, quan hệ gia đình, nhân thân, hoàn cảnh dẫn đến việc nhập cảnh Nhật Bản, thời gian đã lưu trú tại Nhật và địa vị pháp lý trong thời gian đó, sự kiện cấu thành căn cứ trục xuất, nhu cầu cân nhắc về nhân đạo, cùng với tình hình trong và ngoài nước, ảnh hưởng đối với những người cư trú bất hợp pháp tại Nhật và các tình tiết khác.

Điều quan trọng là những yếu tố này được thẩm tra như những sự kiện, chứ không phải như tình cảm. Nếu có vợ hoặc chồng là người Nhật, hoặc có con, thì cần giấy tờ chính thức về kết hôn, khai sinh và nhận cha con (認知). Nếu muốn chứng minh tính liên tục của đời sống, thì cần tài liệu về nhà ở, thu chi gia đình và việc học của con. Nếu cần tiếp tục điều trị, thì cần văn bản của cơ sở y tế. Bắt đầu thu thập sau khi đã trình diện thì những giấy tờ phải xin từ nước nhà thường không kịp.

Cũng xin lưu ý rằng theo Điều 50 khoản 2, đơn xin giấy phép lưu trú đặc biệt do người nước ngoài đã bị thu dung theo lệnh thư thu dung (収容令書) hoặc người đã nhận quyết định biện pháp giám lý (監理措置決定) nộp; trước giai đoạn đó, việc quý vị làm không phải là nộp đơn mà là thúc đẩy cơ quan có thẩm quyền hành xử theo thẩm quyền của mình. Và theo Điều 50 khoản 3, sau khi lệnh thư trục xuất cưỡng chế (退去強制令書) đã được ban hành thì không thể nộp đơn nữa. Nghĩa là thời gian có giới hạn.

Điều thứ tư: quý vị đã hình dung rõ những bất lợi nếu phải về nước chưa

Việc này cần thiết cả khi quý vị muốn ở lại lẫn khi quý vị chọn về nước. Vì Điều 50 khoản 5 liệt kê nhu cầu cân nhắc về nhân đạo, nên những bất lợi cụ thể như con phải bỏ học, người bệnh không tiếp tục được điều trị cần thiết, gia đình bị chia cắt, không còn là nguyện vọng trừu tượng mà trở thành lập luận có thể trình bày. Ngược lại, nếu những bất lợi ấy mỏng, thì việc thiết kế con đường quay lại Nhật bằng một tư cách lưu trú (在留資格) đàng hoàng đôi khi có lợi hơn là gắng sức ở lại.

Muốn thiết kế như vậy thì phải nắm được toàn cảnh thời gian bị từ chối nhập cảnh. Người xuất cảnh theo lệnh xuất cảnh bị cấm 1 năm kể từ ngày rời Nhật (Điều 5 khoản 1 mục 9 ホ). Tuy nhiên, người chỉ bày tỏ ý định rời Nhật sau khi cuộc điều tra vi phạm (違反調査) đã bắt đầu (Điều 24-3 mục 1 ロ) mà xuất cảnh theo lệnh xuất cảnh, nếu sau đó muốn nhập cảnh để thực hiện hoạt động lưu trú ngắn hạn thì bị cấm 5 năm (Điều 5 khoản 1 mục 9 ヘ). Người bị trục xuất mà trước đó không có tiền lệ thì 5 năm (cùng mục ハ), có tiền lệ thì 10 năm (cùng mục ニ). Người tuy bị trục xuất nhưng đã nhận quyết định theo Điều 52 khoản 5 và tự rời Nhật trong thời hạn thì bị cấm 1 năm, trừ trường hợp mục đích là lưu trú ngắn hạn (cùng mục ロ). Còn người bị trục xuất theo căn cứ thuộc Điều 24 khoản 4 các mục từ オ đến ヨ thì không có giới hạn thời gian theo Điều 5 khoản 1 mục 10. Cùng là rời khỏi Nhật, nhưng thời điểm được quay lại trải dài từ 1 năm cho đến vô thời hạn.

Điều thứ năm: quý vị có nắm chính xác tình trạng lưu trú của người thân không

Điều cuối cùng không nói về quý vị mà về gia đình quý vị. Quốc tịch của vợ hoặc chồng và của con, việc họ có tư cách lưu trú hay không và là tư cách nào, thời hạn lưu trú, việc đã đăng ký khai sinh và nhận cha con hay chưa, tình hình học tập của con, tất cả đều gắn trực tiếp với quan hệ gia đình và nhu cầu cân nhắc về nhân đạo tại Điều 50 khoản 5.

Đặc biệt cần thận trọng khi trong nhà còn người khác cũng đã quá hạn lưu trú. Một khi quý vị trình diện, tình trạng của những người sống chung cũng sẽ hiện ra. Nếu chưa thống nhất được ai trình diện và trình diện vào lúc nào mà chỉ một người tự hành động, những người còn lại có thể bị cuốn vào thủ tục trong tình trạng không hề chuẩn bị. Ngược lại, nếu gom được hoàn cảnh của cả nhà thành một lập luận thống nhất thì đó là chất liệu rất mạnh. Trước khi trình diện, xin hãy tập hợp và đối chiếu hộ chiếu, thẻ lưu trú, giấy chứng nhận cư trú và giấy tờ trường học của toàn bộ thành viên trong gia đình.

Tự mình hành động trước khi bị phát hiện thì có ý nghĩa gì

Năm điều trên có ý nghĩa chính vì chúng được xác nhận trước khi trình diện. Cửa vào của lệnh xuất cảnh, tức Điều 24-3 mục 1, phân biệt giữa イ, người trước khi cuộc điều tra vi phạm theo Điều 27 bắt đầu đã tự mình đến cơ quan quản lý xuất nhập cảnh và lưu trú với ý định nhanh chóng rời Nhật, và ロ, người sau khi cuộc điều tra đã bắt đầu nhưng trước khi nhận thông báo theo Điều 47 khoản 3 đã bày tỏ với thẩm tra viên nhập cảnh (入国審査官) hoặc cảnh vệ viên nhập cảnh (入国警備官) rằng mình có ý định nhanh chóng rời Nhật. Sự phân biệt ấy được phản ánh nguyên vẹn vào thời gian bị từ chối nhập cảnh sau này. Thuộc trường hợp イ thì khi xuất cảnh theo lệnh xuất cảnh, thời gian bị cấm là 1 năm (Điều 5 khoản 1 mục 9 ホ). Thuộc trường hợp ロ thì nếu sau đó muốn nhập cảnh lưu trú ngắn hạn, thời gian là 5 năm (cùng mục ヘ). Còn nếu bị phát hiện đến mức không còn hội đủ điều kiện của lệnh xuất cảnh, thì đó là trục xuất cưỡng chế với 5 năm (cùng mục ハ) hoặc 10 năm (cùng mục ニ).

Thêm vào đó, Hướng dẫn về giấy phép lưu trú đặc biệt (sửa đổi tháng 3 năm 2024, có hiệu lực ngày 10 tháng 6 năm 2024) một mặt xác định giấy phép lưu trú đặc biệt là biện pháp mang tính ngoại lệ và ân huệ dành cho người nước ngoài lẽ ra phải bị trục xuất, mặt khác ghi rõ rằng “việc người nước ngoài đó tự mình đến cơ quan quản lý xuất nhập cảnh và lưu trú địa phương để khai báo tình trạng cư trú bất hợp pháp” được xem là yếu tố tích cực. Ngược lại, việc cư trú bất hợp pháp kéo dài được đánh giá là yếu tố tiêu cực. Năm điều cần xác nhận này không phải là lý do để trì hoãn việc trình diện, mà là cách chuẩn bị tập trung trong một khoảng thời gian ngắn.

Về văn phòng chúng tôi

Văn phòng Luật sư Quốc tế Funado (Tòa nhà Fuse, tòa chính tầng 3, 3-4-10 Takada, quận Toshima, Tokyo) lấy bào chữa hình sự cho người nước ngoài và thủ tục xuất nhập cảnh làm lĩnh vực trọng tâm, chủ yếu với thân chủ mang quốc tịch Trung Quốc. Luật sư Matsumura Daisuke (Đoàn Luật sư Dai-ichi Tokyo) trực tiếp phụ trách toàn bộ các bước, từ buổi tư vấn hay lần thăm gặp đầu tiên cho đến khi kết thúc phiên tòa, không giao lại cho nhân viên văn phòng hay luật sư trẻ. Đối với tiếng Trung, văn phòng có phiên dịch chuyên trách am hiểu các vụ việc của người nước ngoài thường trực, nhờ đó thân chủ có thể sử dụng phiên dịch làm việc cho chính mình chứ không chỉ phiên dịch do cơ quan điều tra chỉ định; đối với các ngôn ngữ khác, chúng tôi sắp xếp phiên dịch tùy theo tình hình của vụ việc. Việc gia hạn hoặc thay đổi tư cách lưu trú sau khi thủ tục hình sự kết thúc được xử lý trọn gói cùng hành chính thư sĩ (行政書士) hợp tác.

Xin nêu hai vụ việc. Thứ nhất, một thân chủ nhập cảnh với mục đích du lịch đã có con với một phụ nữ Nhật Bản nhưng mất tư cách lưu trú và bị bắt, bị truy tố vì cư trú bất hợp pháp. Thủ tục kết hôn và nhận cha con khi ấy chưa hoàn tất nên cơ quan chức năng ban đầu từ chối tiếp nhận; luật sư đã thương lượng từ góc độ hiến pháp, hoàn tất được việc kết hôn và nhận cha con, thu thập chứng cứ có lợi ngay trong hoàn cảnh hầu như không có giấy tờ chính thức do nước mà thân chủ mang quốc tịch cấp, phân tích các trường hợp đã được cấp phép trước đây, và giành được giấy phép lưu trú đặc biệt chỉ trong một lần thủ tục.

Thứ hai, một phụ nữ bị buộc tội oan về hành vi tiếp tay cho lao động bất hợp pháp và đứng trước nguy cơ bị trục xuất. Trước thực tiễn lâu nay cho rằng căn cứ trục xuất cưỡng chế không đòi hỏi lỗi cố ý hay vô ý, chúng tôi đã khởi kiện để đặt lại vấn đề về phạm vi của nguyên tắc trách nhiệm cá nhân và theo đuổi đến cấp phúc thẩm. Sau đó, cơ quan xuất nhập cảnh đã chấp thuận giấy phép lưu trú đặc biệt.

Buổi tư vấn đầu tiên miễn phí. Chi phí được báo giá tùy theo từng vụ việc. Dù quý vị còn đang phân vân có nên trình diện hay không, hay chỉ mới còn một trong năm điểm nêu trên chưa xác nhận được, xin cứ liên hệ với chúng tôi.

Lời kết

Tự mình đến trình diện là một quyết định cần dũng khí. Quyết định ấy có phát huy hết giá trị hay không lại phụ thuộc vào những gì quý vị xác nhận và chuẩn bị từ trước: tiền lệ bị trục xuất hay xuất cảnh theo lệnh xuất cảnh, tiền án tiền sự, lý do mong muốn lưu trú và tài liệu chứng minh, những bất lợi nếu phải về nước, và tình trạng lưu trú của gia đình. Xin hãy sắp xếp xong năm điều này rồi mới bước tới quầy tiếp nhận.

Bài viết này là giải thích mang tính khái quát; với vụ việc cụ thể, xin quý vị trao đổi trực tiếp với luật sư. Các kết quả đã đạt được nêu trên dựa trên hoàn cảnh riêng của từng vụ việc và không bảo đảm sẽ có kết quả tương tự.

Người viết

Matsumura Daisuke, Luật sư

Đoàn Luật sư Dai-ichi Tokyo (số đăng ký: 59077, đăng ký năm 2019)

Văn phòng Luật sư Quốc tế Funado (Tòa nhà Fuse, tòa chính tầng 3, 3-4-10 Takada, quận Toshima, Tokyo)

Lấy bào chữa hình sự cho người nước ngoài và thủ tục xuất nhập cảnh làm lĩnh vực trọng tâm, chủ yếu với thân chủ mang quốc tịch Trung Quốc.

Đã đạt được bản án vô tội trong vụ án vi phạm Luật Kiểm soát chất kích thích (tàng trữ nhằm mục đích thu lợi), quyết định không truy tố trong vụ án lừa đảo có tổ chức, và giấy phép lưu trú đặc biệt trong vụ việc vốn được coi là khó.

Liên hệ

Văn phòng Luật sư Quốc tế Funado

Website: https://matsumura-lawoffice.jp/

WeChat ID: matsumura1119

Các phiên bản ngôn ngữ khác của bài viết này

日本語 / 简体中文 / 繁體中文 / English / 한국어

----------------------------------------------------------------------
舟渡国際法律事務所
住所 : 東京都豊島区高田3丁目4-10布施ビル本館3階
電話番号 :050-7587-4639


東京を中心に刑事事件の弁護

----------------------------------------------------------------------

当店でご利用いただける電子決済のご案内

下記よりお選びいただけます。