舟渡国際法律事務所

Bị cảnh sát bắt vì cư trú quá hạn ở Nhật: đã quá muộn chưa? Những gì vẫn có thể làm sau khi bị bắt

お問い合わせはこちら

Bị cảnh sát bắt vì cư trú quá hạn ở Nhật: đã quá muộn chưa? Những gì vẫn có thể làm sau khi bị bắt

Bị cảnh sát bắt vì cư trú quá hạn ở Nhật: đã quá muộn chưa? Những gì vẫn có thể làm sau khi bị bắt

2026/08/27

Bạn ở lại Nhật Bản sau khi thời hạn lưu trú đã hết, rồi một ngày bị cảnh sát bắt giữ. Hoặc bạn bị kiểm tra vì một việc khác, cảnh sát xem thẻ cư trú (在留カード) và đưa bạn đi ngay tại chỗ. Với chính người bị bắt, và với gia đình đang chờ ở Nhật, đó là khoảnh khắc khiến đầu óc trống rỗng. Bị giam trong buồng tạm giữ, bị thẩm vấn bằng tiếng Nhật hết lần này đến lần khác, người ta thường nghĩ: "Chắc chỉ còn cách bị trục xuất", "Chắc không bao giờ gặp lại gia đình ở Nhật nữa". Suy nghĩ như vậy là điều tự nhiên. Nhưng xin nói kết luận trước: bị bắt không có nghĩa là mọi con đường đã đóng lại. Phạm vi lựa chọn đúng là hẹp đi, nhưng ngay cả sau khi bị bắt, pháp luật vẫn để lại một số con đường. Bài viết này lần lượt làm rõ những con đường đó theo từng điều luật.

Đã bị bắt rồi thì có phải là đã quá muộn không

Chưa quá muộn. Nhưng theo thời gian, số lựa chọn thực sự giảm dần, nên cần hành động nhanh.

Ở lại Nhật quá thời hạn lưu trú cấu thành tội cư trú bất hợp pháp (不法残留罪) theo Điều 70 khoản 1 mục 5 Luật Quản lý xuất nhập cảnh và công nhận tị nạn (入管法, sau đây gọi là Luật Nhập cư). Hình phạt luật định là kōkinkei (拘禁刑, hình phạt giam giữ) đến 3 năm, hoặc phạt tiền đến 3.000.000 yên, hoặc áp dụng đồng thời cả hai. Nghĩa là đây không chỉ là vấn đề hành chính, mà là một tội phạm bị xử lý hình sự. Đồng thời, theo Điều 24 mục 4 điểm ロ, cư trú bất hợp pháp là căn cứ trục xuất cưỡng chế (退去強制事由). Người bị bắt vì vậy phải đối mặt cùng lúc với hai tuyến thủ tục: thủ tục hình sự và thủ tục nhập cư.

Hai tuyến này có mục đích khác nhau và do các cơ quan khác nhau quyết định. Nhưng những điều thực sự phải quyết ngay sau khi bị bắt chỉ có hai. Thứ nhất: sẽ xây dựng phương án theo hướng nhanh chóng về nước, hay theo hướng xin được tiếp tục lưu trú tại Nhật. Thứ hai: dù chọn hướng nào, cũng phải bắt tay ngay từ đầu vào việc làm nhẹ nhất có thể phần xử lý hình sự. Ngược lại, để ngày tháng trôi qua mà không quyết định hai điều đó chính là tổn thất lớn nhất.

Sau khi bị bắt, còn có khả năng nhận lệnh xuất cảnh không

Nếu đáp ứng điều kiện thì vẫn có. Việc bị bắt không tự động đóng cánh cửa lệnh xuất cảnh (出国命令).

Điều 24-3 Luật Nhập cư quy định đối tượng của lệnh xuất cảnh. Mục 1 chia làm hai trường hợp, trong đó điểm ロ quy định "người đã bày tỏ ý định nhanh chóng rời khỏi Nhật Bản với thanh tra nhập cảnh hoặc nhân viên cảnh vệ nhập cảnh, sau khi cuộc điều tra vi phạm đã bắt đầu nhưng trước khi nhận được thông báo theo Điều 47 khoản 3". Nghĩa là dù cuộc điều tra vi phạm của cơ quan nhập cư đã bắt đầu, chừng nào chưa nhận được thông báo nói ở phần sau, vẫn còn dư địa để thỏa mãn mục 1.

Tuy nhiên, để nhận được lệnh xuất cảnh, phải thỏa mãn toàn bộ năm điều kiện của Điều 24-3.

  • Mục 1: tự mình đến trình diện tại cơ quan quản lý xuất nhập cảnh và lưu trú trước khi cuộc điều tra vi phạm bắt đầu (điểm イ), hoặc bày tỏ ý định xuất cảnh sau khi điều tra đã bắt đầu nhưng trước thông báo theo Điều 47 khoản 3 (điểm ロ).
  • Mục 2: không thuộc bất kỳ trường hợp nào của Điều 24 mục 3 đến mục 3-5, mục 4 điểm ハ đến điểm ヨ, mục 8 hoặc mục 9. Bản án kết tội về vi phạm pháp luật liên quan đến ma túy, thuộc Điều 24 mục 4 điểm チ, bị chặn ở đây.
  • Mục 3: sau khi vào Nhật Bản, không bị tuyên kōkinkei (hình phạt giam giữ) về các tội trong Bộ luật Hình sự như xâm nhập chỗ ở, làm giả tiền tệ, tài liệu, chứng khoán có giá, dữ liệu điện từ của thẻ thanh toán, đánh bạc, giết người, cố ý gây thương tích, bắt giữ giam người trái pháp luật, bắt cóc và chiếm đoạt người, trộm cắp và cướp, lừa đảo và cưỡng đoạt, tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có, cũng như một số tội theo Luật xử phạt hành vi bạo lực, Luật phòng ngừa trộm cắp, Luật cấm sở hữu dụng cụ mở khóa đặc biệt, Luật xử phạt hành vi gây chết hoặc bị thương do lái xe ô tô, và Luật phòng ngừa việc định đoạt sản phẩm kim loại bị đánh cắp.
  • Mục 4: trước đây chưa từng bị trục xuất cưỡng chế khỏi Nhật Bản, và cũng chưa từng xuất cảnh theo lệnh xuất cảnh quy định tại Điều 55-85 khoản 1.
  • Mục 5: có thể dự đoán chắc chắn rằng người đó sẽ nhanh chóng rời khỏi Nhật Bản.

Điều cần đặc biệt lưu ý là bản thân tội cư trú bất hợp pháp không nằm trong danh sách tội danh của mục 3. Vì vậy, việc hành vi bị tình nghi khi bắt chỉ là cư trú bất hợp pháp, hay còn bao gồm trộm cắp, lừa đảo hoặc tội khác, sẽ làm thay đổi kết luận rất nhiều. Khi lệnh xuất cảnh được ban hành, thanh tra phụ trách ra lệnh xuất cảnh nhanh chóng theo Điều 55-85 khoản 1 và ấn định thời hạn xuất cảnh trong phạm vi không quá 15 ngày. Theo khoản 3 cùng điều, có thể kèm theo các điều kiện như hạn chế nơi cư trú và phạm vi hoạt động. Khác với thủ tục trục xuất cưỡng chế, thủ tục lệnh xuất cảnh không lấy việc thu dung làm tiền đề.

"Trước khi nhận thông báo theo Điều 47 khoản 3" là đến thời điểm nào

Đó là khoảng thời gian cho đến khi thanh tra nhập cảnh, sau khi tiến hành thẩm tra vi phạm, xác định rằng đương sự thuộc diện bị trục xuất cưỡng chế và thông báo kết luận đó cho chính người đó.

Thủ tục trục xuất cưỡng chế nhìn chung diễn ra theo trình tự sau: nhân viên cảnh vệ nhập cảnh tiến hành điều tra vi phạm (Điều 27 và tiếp theo); thu dung theo lệnh thu dung (収容令書, Điều 39) hoặc quyết định biện pháp giám lý (監理措置決定, Điều 44-2 khoản 7); thanh tra nhập cảnh thẩm tra vi phạm (Điều 45 và tiếp theo); ra kết luận và thông báo (Điều 47 khoản 3); nếu không phục thì yêu cầu thẩm vấn bằng lời (Điều 48); thẩm tra viên đặc biệt ra phán định (Điều 48 khoản 8); nếu vẫn không phục thì khiếu nại lên Bộ trưởng Tư pháp (Điều 49); và sau khi có quyết định giải quyết, dẫn đến giấy phép lưu trú đặc biệt (在留特別許可, Điều 50) hoặc ban hành lệnh trục xuất cưỡng chế (退去強制令書, Điều 51).

Ở giai đoạn bị cảnh sát bắt, thủ tục của cơ quan nhập cư thường chưa thực sự bắt đầu. Trên thực tế, thủ tục hình sự thường đi trước, và sau khi kết thúc thì thủ tục nhập cư mới vận hành. Vì vậy, giai đoạn ngay sau khi bị bắt, tuy có vẻ là lúc ít thời gian nhất, lại chính là khoảng thời gian quý giá để xác định phương hướng. Nếu không quyết định gì trong giai đoạn này, đến khi nhận ra thì thông báo kết luận đã đến, và lối vào của Điều 24-3 mục 1 tự nó đóng lại.

Nếu về nước theo lệnh xuất cảnh sau khi bị bắt, bao lâu nữa mới quay lại Nhật được

Có thể là 1 năm, cũng có thể là 5 năm, tùy vào tư cách lưu trú (在留資格) mà bạn định dùng khi quay lại. So với trường hợp bị trục xuất cưỡng chế, khác biệt là rất rõ.

  • Người xuất cảnh theo lệnh xuất cảnh, về nguyên tắc, bị từ chối nhập cảnh trong 1 năm kể từ ngày xuất cảnh theo Điều 5 khoản 1 mục 9 điểm ホ.
  • Tuy nhiên, người thuộc Điều 24-3 mục 1 điểm ロ (tức người chỉ bày tỏ ý định xuất cảnh sau khi điều tra vi phạm đã bắt đầu) sau khi xuất cảnh theo lệnh xuất cảnh, nếu muốn tiến hành hoạt động của tư cách lưu trú ngắn hạn, thì theo Điều 5 khoản 1 mục 9 điểm ヘ là 5 năm kể từ ngày xuất cảnh.
  • Người bị trục xuất cưỡng chế mà trước đó không có tiền lệ bị trục xuất hay xuất cảnh theo lệnh xuất cảnh, thì theo Điều 5 khoản 1 mục 9 điểm ハ là 5 năm kể từ ngày rời khỏi Nhật.
  • Người bị trục xuất cưỡng chế mà trước đó đã từng bị trục xuất hoặc đã từng xuất cảnh theo lệnh xuất cảnh, thì theo Điều 5 khoản 1 mục 9 điểm ニ là 10 năm kể từ ngày rời khỏi Nhật.
  • Người bị trục xuất cưỡng chế do thuộc Điều 24 mục 4 các điểm オ đến ヨ thì áp dụng Điều 5 khoản 1 mục 10, không có quy định về thời hạn. Điều 5 khoản 1 mục 5 về tiền án theo pháp luật liên quan đến ma túy cũng là từ chối nhập cảnh không có thời hạn.

Nói cách khác, người bày tỏ ý định xuất cảnh sau khi bị bắt và nhận lệnh xuất cảnh, nếu sau này muốn sang Nhật với mục đích du lịch hay lưu trú ngắn hạn tương tự thì là 5 năm; nhưng nếu sang Nhật bằng tư cách lưu trú khác, chẳng hạn vợ hoặc chồng của người Nhật, thì mốc áp dụng là 1 năm theo mục 9 điểm ホ. Ngược lại, một khi đã đi tới trục xuất cưỡng chế thì bất kể mục đích nhập cảnh sau này là gì, vẫn là 5 năm hoặc 10 năm. Ngay cả khi đã bị bắt, việc có ý thức được khác biệt này khi hành động hay không sẽ thay đổi cách sắp xếp cuộc sống về sau.

Nếu được đình chỉ điều tra hoặc được hưởng án treo thì có được ở lại Nhật không

Mức độ nặng nhẹ của xử lý hình sự và việc có được ở lại Nhật hay không là hai vấn đề khác nhau. Hiểu rằng "được án treo là ổn rồi" là sai.

Cư trú bất hợp pháp, theo Điều 24 mục 4 điểm ロ, tự nó đã là căn cứ trục xuất cưỡng chế. Dù kết quả hình sự là quyết định không truy tố (不起訴処分), phạt tiền, hay bản án cho hưởng án treo, việc thuộc căn cứ này vẫn không thay đổi. Điều 24 mục 4 điểm リ quy định "người bị tuyên kōkinkei chung thân hoặc trên 1 năm" là căn cứ trục xuất cưỡng chế, đồng thời loại trừ người được cho hưởng án treo toàn bộ hình phạt và người được hưởng án treo một phần mà phần không được hưởng án treo từ 1 năm trở xuống. Nhưng cái được loại trừ chỉ là việc áp dụng điểm リ; điểm ロ thì ngay từ đầu đã được thỏa mãn.

Dù vậy, xử lý hình sự vẫn có tính quyết định, vì nó gắn trực tiếp với khung xét giấy phép lưu trú đặc biệt. Phần "trừ trường hợp" của Điều 50 khoản 1 quy định rằng với người bị tuyên kōkinkei chung thân hoặc trên 1 năm (trừ người được hưởng án treo toàn bộ, và người hưởng án treo một phần mà phần thi hành thực tế từ 1 năm trở xuống), hoặc thuộc Điều 24 mục 3-2, mục 3-3, mục 4 điểm ハ hay các điểm オ đến ヨ, thì chỉ cấp phép "khi nhận thấy có tình tiết đặc biệt đến mức việc không cho phép lưu trú tại Nhật Bản bị coi là thiếu sự cân nhắc nhân đạo", tức là điều kiện được siết chặt hơn. Vụ việc chỉ có cư trú bất hợp pháp (Điều 24 mục 4 điểm ロ) không thuộc phạm vi áp dụng của điều kiện siết chặt này. Đây là một điểm có lợi. Nhưng một khi hình phạt thi hành thực tế vượt quá 1 năm thì điều kiện siết chặt đó sẽ áp dụng.

Do đó, hoạt động bào chữa nhằm đạt được quyết định không truy tố, đạt được hình phạt tiền theo lệnh giản lược, hoặc đạt được bản án cho hưởng án treo, tự nó cũng là hoạt động giữ gìn tiền đề cho giấy phép lưu trú đặc biệt. Đó chính là lý do không thể tách rời hình sự và nhập cư, mà phải thiết kế như một thể thống nhất ngay từ đầu. Ngoài ra, triển vọng xử lý hình sự có biên độ rất rộng tùy từng vụ, phụ thuộc vào thời gian cư trú bất hợp pháp dài hay ngắn, có làm việc trái phép hay không, có kèm vi phạm khác như giấy tờ giả hay không, có tự mình ra trình diện hay không, và nền tảng sinh hoạt cùng quan hệ gia đình có rõ ràng hay không.

Sau khi bị bắt còn xin được giấy phép lưu trú đặc biệt không

Có. Nhưng luật giới hạn thời điểm được nộp đơn, và có một mốc kết thúc.

Điều 50 khoản 2 quy định rằng đơn xin giấy phép lưu trú đặc biệt do người nước ngoài đã bị thu dung theo lệnh thu dung, hoặc người đã nhận quyết định biện pháp giám lý, nộp lên Bộ trưởng Tư pháp theo thủ tục do quy định của Bộ Tư pháp ấn định. Nghĩa là quyền nộp đơn chỉ phát sinh sau khi bị thu dung theo lệnh thu dung hoặc nhận quyết định biện pháp giám lý. Trước thời điểm đó, việc có thể làm là nộp tài liệu và đề nghị cơ quan có thẩm quyền tự mình xem xét.

Và theo Điều 50 khoản 3, sau khi lệnh trục xuất cưỡng chế đã được ban hành thì không thể nộp đơn nữa. Đây là mốc kết thúc trên thực tế. Sau khi lệnh được ban hành, việc cứu trợ chuyển sang lĩnh vực tư pháp, gồm khởi kiện hủy quyết định và yêu cầu tạm đình chỉ thi hành, gánh nặng và mức độ khó đều tăng lên rất nhiều. Ngoài ra, theo Điều 50 khoản 4, giấy phép lưu trú đặc biệt chỉ có thể được cấp sau khi đương sự chấp nhận kết luận theo Điều 47 khoản 3 hoặc phán định theo Điều 48 khoản 8, hoặc sau khi Bộ trưởng Tư pháp ra quyết định rằng khiếu nại không có căn cứ.

Những tình tiết được xem xét khi ra quyết định đã được luật hóa tại Điều 50 khoản 5: lý do mong muốn lưu trú, quan hệ gia đình, nhân thân và hạnh kiểm, hoàn cảnh dẫn đến việc nhập cảnh Nhật Bản, thời gian đã lưu trú tại Nhật và địa vị pháp lý trong thời gian đó, sự việc trở thành lý do trục xuất cưỡng chế, sự cần thiết của cân nhắc nhân đạo, cùng với tình hình trong và ngoài nước, ảnh hưởng đối với người cư trú bất hợp pháp tại Nhật và các tình tiết khác. Phần lớn vụ việc cư trú quá hạn được xem xét theo Điều 50 khoản 1 mục 5, "khi Bộ trưởng Tư pháp nhận thấy có tình tiết cần đặc biệt cho phép lưu trú". Khi ra quyết định không cấp phép, Điều 50 khoản 10 buộc phải nhanh chóng thông báo bằng văn bản có nêu lý do.

Ngay sau khi bị bắt, đương sự bị hạn chế tự do thân thể nên không thể tự mình thu thập tài liệu. Chính vì vậy, ngay từ giai đoạn này, luật sư bào chữa và gia đình cần cùng hành động, chuẩn bị giấy tờ chứng minh quan hệ hôn nhân và quan hệ cha mẹ con, tài liệu thể hiện thực tế cuộc sống tại Nhật, và tài liệu liên quan đến hạnh kiểm.

Ý nghĩa của việc tự mình hành động trước khi bị phát hiện

Với người đã bị bắt, điều này nghe như chuyện đã qua, nhưng biết được khác biệt này vẫn có ý nghĩa.

Người tự mình đến trình diện tại cơ quan quản lý xuất nhập cảnh và lưu trú với ý định nhanh chóng xuất cảnh, trước khi cuộc điều tra vi phạm bắt đầu, thuộc Điều 24-3 mục 1 điểm イ. Trường hợp này, nếu xuất cảnh theo lệnh xuất cảnh thì thời hạn từ chối nhập cảnh là 1 năm theo Điều 5 khoản 1 mục 9 điểm ホ. Ngược lại, người chỉ bày tỏ ý định xuất cảnh sau khi điều tra vi phạm đã bắt đầu thì thuộc điểm ロ, và nếu sau này muốn sang Nhật bằng tư cách lưu trú ngắn hạn thì theo mục 9 điểm ヘ là 5 năm. Hơn nữa, nếu do bị phát hiện mà không còn đáp ứng các điều kiện tại Điều 24-3 mục 2, mục 3, mục 4, thì bản thân lệnh xuất cảnh cũng không dùng được, và trục xuất cưỡng chế dẫn đến 5 năm theo mục 9 điểm ハ hoặc 10 năm theo mục 9 điểm ニ.

Ở phương diện giấy phép lưu trú đặc biệt cũng vậy. Hướng dẫn về giấy phép lưu trú đặc biệt, được sửa đổi tháng 3 năm Reiwa 6 (2024) và có hiệu lực từ ngày 10 tháng 6 cùng năm, xác định giấy phép lưu trú đặc biệt là "biện pháp mang tính ngoại lệ và ân huệ đối với người nước ngoài lẽ ra phải bị trục xuất khỏi Nhật Bản", đồng thời ghi rõ rằng việc "người nước ngoài đó tự mình đến trình diện tại cơ quan quản lý xuất nhập cảnh và lưu trú địa phương để khai báo tình trạng cư trú bất hợp pháp" được xem xét như một yếu tố tích cực. Mặt khác, tình trạng cư trú bất hợp pháp kéo dài bị đánh giá là yếu tố tiêu cực.

Và ngay cả sau khi bị bắt, việc "tự mình hành động" vẫn có ý nghĩa. Quyết định phương hướng và bày tỏ ý định trước khi nhận thông báo theo Điều 47 khoản 3; thể hiện cụ thể sự ăn năn và thực tế cuộc sống trong quá trình tố tụng hình sự; nếu muốn xin ở lại thì tích lũy tài liệu ngay từ sớm. Đó đều là những hành động mà đương sự và gia đình vẫn có thể lựa chọn sau khi bị bắt. Và nếu trong số người thân hay bạn bè của bạn còn có ai đang ở tình trạng cư trú bất hợp pháp mà chưa bị phát hiện, thì với người đó, con đường theo điểm イ vẫn còn mở.

Giới thiệu văn phòng chúng tôi

Văn phòng Luật sư Quốc tế Funado (tầng 3 tòa nhà chính Fuse, 3-4-10 Takada, quận Toshima, Tokyo) do luật sư Matsumura Daisuke (thuộc Đoàn Luật sư Daiichi Tokyo, số đăng ký 59077, đăng ký năm 2019) phụ trách, với lĩnh vực trọng tâm là bào chữa hình sự cho người nước ngoài, chủ yếu là thân chủ quốc tịch Trung Quốc, và các thủ tục nhập cư.

Cách làm việc của chúng tôi có ba đặc điểm. Thứ nhất, từ buổi tiếp xúc đầu tiên tại nơi tạm giữ ngay sau khi bị bắt cho đến khi kết thúc tranh tụng tại phiên tòa, luật sư Matsumura trực tiếp phụ trách toàn bộ các công đoạn, không giao cho nhân viên văn phòng hay luật sư trẻ làm thay. Thứ hai, văn phòng có phiên dịch tiếng Trung chuyên trách thường trực, am hiểu các vụ việc liên quan đến người nước ngoài; đối với các ngôn ngữ khác, chúng tôi sắp xếp phiên dịch tùy theo từng vụ việc. Không biết lời khai của mình được dịch ra như thế nào trong lúc thẩm vấn là một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất của các vụ án hình sự có người nước ngoài, và việc có phiên dịch làm việc cho chính thân chủ, tách biệt với phiên dịch do cơ quan điều tra chỉ định, giải quyết trực tiếp vấn đề đó. Thứ ba, sau khi thủ tục hình sự kết thúc, các việc gia hạn hay thay đổi tư cách lưu trú được xử lý trọn gói cùng với hành chính thư sĩ (行政書士) hợp tác.

Sau đây là hai vụ việc liên quan mà chúng tôi đã xử lý.

Vụ việc D-1 (đạt được giấy phép lưu trú đặc biệt khó khăn chỉ trong một lần thủ tục). Thân chủ sang Nhật với mục đích du lịch, có con với một phụ nữ Nhật Bản, nhưng đã mất tư cách lưu trú và bị bắt, bị truy tố vì cư trú bất hợp pháp. Khi đó thủ tục kết hôn và nhận con chưa hoàn tất và từng bị cơ quan chức năng từ chối tiếp nhận. Luật sư Matsumura đã đàm phán với cơ quan chức năng từ góc độ hiến pháp, giúp việc kết hôn và nhận con thành công, đồng thời tiến hành phần hỏi bị cáo và thẩm vấn người làm chứng với tầm nhìn hướng tới phiên tòa hình sự về vi phạm Luật Nhập cư. Ngay trong hoàn cảnh khó khăn khi nước gốc hầu như không cấp giấy tờ công, các chứng cứ có lợi vẫn được thu thập, và qua việc phân tích các trường hợp được cấp phép trước đây của cơ quan nhập cư, giấy phép lưu trú đặc biệt đã đạt được chỉ trong một lần thủ tục.

Vụ việc D-2 (cứu giúp một phụ nữ đứng trước nguy cơ bị trục xuất). Thân chủ bị quy kết oan về tội tiếp tay cho lao động bất hợp pháp và đứng trước nguy cơ bị trục xuất. Trước thực tiễn lâu nay cho rằng "căn cứ trục xuất cưỡng chế không đòi hỏi cố ý hay vô ý", văn phòng đã khởi kiện để đặt vấn đề về phạm vi của nguyên tắc trách nhiệm, và theo đuổi vụ việc đến cấp phúc thẩm. Sau đó, cơ quan nhập cư đã chấp thuận giấy phép lưu trú đặc biệt.

Buổi tư vấn đầu tiên miễn phí. Chi phí được báo giá tùy theo từng vụ việc. Trường hợp đương sự đang bị tạm giữ, chúng tôi cũng tiếp nhận tư vấn từ gia đình.

Lời kết

Khoảng thời gian sau khi bị bắt đè nặng lên cả đương sự lẫn gia đình. Nhưng ngay trong khoảng thời gian ấy, việc còn hay không còn dư địa theo Điều 24-3 mục 1 điểm ロ, việc xử lý hình sự có thể được làm nhẹ đến đâu, và có thể tích lũy được bao nhiêu tài liệu cho giấy phép lưu trú đặc biệt, đều phụ thuộc vào việc có hành động hay không. Đừng một mình phán đoán rằng đã quá muộn. Hãy trình bày sự việc với người có chuyên môn càng sớm càng tốt.

Bài viết này là giải thích mang tính khái quát; với từng vụ việc cụ thể, xin vui lòng tư vấn trực tiếp với luật sư.

Các vụ việc đã giải quyết trước đây dựa trên hoàn cảnh riêng của từng vụ và không bảo đảm sẽ có kết quả tương tự.

Tác giả

Matsumura Daisuke, Luật sư

Đoàn Luật sư Daiichi Tokyo (số đăng ký: 59077 / đăng ký năm 2019)

Văn phòng Luật sư Quốc tế Funado (tầng 3 tòa nhà chính Fuse, 3-4-10 Takada, quận Toshima, Tokyo)

Lĩnh vực trọng tâm: bào chữa hình sự cho người nước ngoài, chủ yếu là thân chủ quốc tịch Trung Quốc, và các thủ tục nhập cư.

Thành quả đã đạt được bao gồm bản án vô tội trong vụ vi phạm Luật kiểm soát chất kích thích (tàng trữ nhằm mục đích thu lợi), quyết định không truy tố trong vụ lừa đảo có tổ chức, và giấy phép lưu trú đặc biệt trong vụ việc được coi là khó khăn.

Liên hệ

Văn phòng Luật sư Quốc tế Funado

Website: https://matsumura-lawoffice.jp/

WeChat ID: matsumura1119

Các phiên bản ngôn ngữ khác của bài viết này

日本語 / 简体中文 / 繁體中文 / English / 한국어

----------------------------------------------------------------------
舟渡国際法律事務所
住所 : 東京都豊島区高田3丁目4-10布施ビル本館3階
電話番号 :050-7587-4639


東京を中心に刑事事件の弁護

----------------------------------------------------------------------

当店でご利用いただける電子決済のご案内

下記よりお選びいただけます。