Lệnh xuất cảnh tại Nhật Bản: 5 điều kiện theo Điều 24-3 Luật Nhập cư dành cho người cư trú quá hạn
2026/08/27
Bạn đã ở lại Nhật Bản sau khi thời hạn lưu trú ghi trên thẻ cư trú hết hiệu lực. Chưa có chuyện gì xảy ra, nhưng nỗi lo thì không biến mất: bao giờ thì bị phát hiện, có bị thu dung (giam giữ) hay không, gia đình sẽ ra sao. Một trong những câu hỏi chúng tôi nhận được nhiều nhất là: nghe nói có chế độ gọi là lệnh xuất cảnh (出国命令), liệu tôi có dùng được không. Lệnh xuất cảnh là thủ tục cho phép người nước ngoài tự rời Nhật Bản mà không lấy việc giam giữ làm tiền đề, đồng thời rút ngắn khoảng thời gian bị từ chối nhập cảnh trở lại. Tuy nhiên, không phải ai cũng được áp dụng. Điều 24-3 Luật Quản lý xuất nhập cảnh và công nhận tị nạn (入管法, sau đây gọi là Luật Nhập cư) đòi hỏi phải thỏa mãn đồng thời cả năm điều kiện. Bài viết này lần lượt xem xét từng điều kiện theo đúng thứ tự trong điều luật.
Một lưu ý về cách trích dẫn: điều luật Nhật Bản chia khoản thành các mục nhỏ được đánh dấu bằng các ký tự i, ro, ha, ni, ho, he. Trong tiếng Việt, các mục này được ghi tương ứng là điểm a, b, c, d, đ, e.
Lệnh xuất cảnh là gì và khác trục xuất cưỡng chế ở điểm nào?
Lệnh xuất cảnh là thủ tục theo đó người nước ngoài thỏa mãn một số điều kiện nhất định được lệnh tự rời khỏi Nhật Bản, không lấy việc thu dung làm tiền đề (Điều 24-3 Luật Nhập cư). Thẩm tra viên chủ nhiệm ra lệnh xuất cảnh nhanh chóng và ấn định thời hạn xuất cảnh trong phạm vi không quá 15 ngày (Điều 55-85 khoản 1). Cơ quan có thể kèm theo điều kiện như hạn chế nơi cư trú và phạm vi đi lại (Điều 55-85 khoản 3).
So với thủ tục trục xuất cưỡng chế (退去強制), có hai khác biệt quan trọng. Thứ nhất, lệnh xuất cảnh không lấy việc giam giữ theo giấy lệnh thu dung làm tiền đề. Thứ hai là độ dài của thời hạn cấm nhập cảnh (上陸拒否期間). Người rời Nhật theo lệnh xuất cảnh bị cấm nhập cảnh 1 năm kể từ ngày xuất cảnh (Điều 5 khoản 1 mục ix điểm đ). Trong khi đó, người bị trục xuất cưỡng chế mà trước đó chưa từng bị trục xuất và chưa từng xuất cảnh theo lệnh xuất cảnh thì bị cấm 5 năm kể từ ngày rời đi (Điều 5 khoản 1 mục ix điểm c), còn nếu đã từng có tiền lệ như vậy thì là 10 năm (điểm d). Khoảng cách này ảnh hưởng trực tiếp đến kế hoạch nhiều năm của một đời người.
Những căn cứ trục xuất nào có thể được áp dụng lệnh xuất cảnh?
Điều 24-3 áp dụng cho người nước ngoài thuộc một trong các trường hợp: Điều 24 mục ii-4, mục iv điểm b, hoặc các mục vi đến vii. Cư trú quá hạn thuộc Điều 24 mục iv điểm b, tức là người ở lại Nhật Bản quá thời hạn lưu trú mà không được gia hạn hoặc thay đổi tư cách lưu trú (在留資格). Như vậy, người cư trú quá hạn đang đứng ở cửa vào của chế độ này.
Nhưng đứng ở cửa vào không đồng nghĩa với việc đủ điều kiện. Điều 24-3 yêu cầu thỏa mãn đồng thời cả năm điều kiện dưới đây; thiếu một điều kiện thì lệnh xuất cảnh không được áp dụng.
Điều kiện thứ nhất: tự ra trình diện đến khi nào thì còn kịp?
Điều kiện thứ nhất chia thành hai trường hợp. Điểm a: trước khi cuộc điều tra vi phạm theo Điều 27 bắt đầu, người đó đã tự mình đến trình diện tại cơ quan quản lý xuất nhập cảnh và lưu trú với ý định nhanh chóng rời khỏi Nhật Bản. Điểm b: sau khi cuộc điều tra vi phạm đã bắt đầu nhưng trước khi nhận được thông báo theo Điều 47 khoản 3, người đó đã bày tỏ với thẩm tra viên nhập cảnh hoặc cán bộ cảnh bị nhập cảnh rằng mình có ý định nhanh chóng rời khỏi Nhật Bản.
Nói cách khác, luật mở ra hai con đường: tự ra trình diện trước khi điều tra bắt đầu (điểm a), và bày tỏ ý định xuất cảnh sau khi điều tra đã bắt đầu nhưng trước khi nhận thông báo xác định (điểm b). Điều cần đặc biệt lưu ý là việc thuộc điểm a hay điểm b sẽ làm thay đổi hệ quả sau khi rời Nhật. Nếu thuộc điểm a và xuất cảnh theo lệnh xuất cảnh, thời hạn cấm nhập cảnh là 1 năm (Điều 5 khoản 1 mục ix điểm đ). Còn nếu thuộc điểm b, sau khi xuất cảnh theo lệnh xuất cảnh mà muốn quay lại Nhật Bản với hoạt động thuộc tư cách lưu trú ngắn hạn, thời hạn là 5 năm kể từ ngày xuất cảnh (điểm e). Cùng một lệnh xuất cảnh, chỉ vì thời điểm ra trình diện khác nhau mà ngày được đặt chân trở lại Nhật Bản chênh nhau tới 4 năm.
Điều kiện thứ hai: có đồng thời thuộc căn cứ trục xuất nào khác không?
Điều kiện thứ hai đòi hỏi người đó không thuộc bất kỳ trường hợp nào tại Điều 24 các mục iii đến iii-5, mục iv từ điểm c đến điểm y, mục viii hoặc mục ix. Nếu chỉ đơn thuần cư trú quá hạn thì dừng lại ở mục iv điểm b; nhưng khi có thêm tình tiết khác chồng lên, điều kiện này sẽ không còn được thỏa mãn.
Trên thực tế, các căn cứ hay gây vướng mắc nằm ở mục iv từ điểm c trở đi và các mục lân cận. Ví dụ, hành vi tiếp tay cho lao động bất hợp pháp (Điều 24 mục iii-4) chỉ cần có hành vi là đủ, không đòi hỏi đã bị xử lý hình sự. Bản án kết tội về vi phạm pháp luật liên quan đến ma túy (Điều 24 mục iv điểm h) vẫn thuộc trường hợp này ngay cả khi hình phạt chỉ là tiền phạt, hoặc được hưởng án treo. Nhiều người tự nghĩ rằng mình chỉ cư trú quá hạn, nhưng về mặt pháp lý lại đồng thời thuộc các căn cứ khác. Việc phân định này đòi hỏi đối chiếu cấu trúc điều luật với sự việc cụ thể.
Điều kiện thứ ba: có tiền án thì chắc chắn không được áp dụng lệnh xuất cảnh?
Điều kiện thứ ba đòi hỏi rằng sau khi nhập cảnh Nhật Bản, người đó không bị tuyên hình phạt kōkinkei (拘禁刑, hình phạt giam giữ) về một số tội danh nhất định. Danh mục bao gồm: Bộ luật Hình sự Phần II Chương 12 (xâm nhập chỗ ở), các Chương 16 đến 19 (làm tiền giả, làm giả tài liệu, làm giả chứng khoán có giá, dữ liệu điện từ của thẻ thanh toán), Chương 23 (đánh bạc), Chương 26 (giết người), Chương 27 (cố ý gây thương tích), Chương 31 (bắt giữ, giam người trái phép), Chương 33 (bắt cóc, chiếm đoạt người), Chương 36 (trộm cắp, cướp), Chương 37 (lừa đảo, cưỡng đoạt), Chương 39 (tài sản do phạm tội mà có); các tội tại Điều 1, Điều 1-2, Điều 1-3 Luật xử phạt hành vi bạo lực; các tội theo Luật phòng ngừa trộm cướp; các tội tại Điều 15, Điều 16 Luật cấm sở hữu dụng cụ mở khóa đặc biệt; các tội tại Điều 2 và Điều 6 khoản 1 Luật xử phạt hành vi lái xe gây chết người hoặc thương tích; và tội tại Điều 22 Luật phòng ngừa việc định đoạt vật phẩm kim loại đặc định bị trộm cắp.
Có hai điểm cần nắm. Thứ nhất, chỉ những tội phạm thực hiện sau khi nhập cảnh Nhật Bản mới thuộc phạm vi này. Thứ hai, điều luật yêu cầu là không bị tuyên hình phạt giam giữ, do đó nếu chỉ bị phạt tiền thì theo câu chữ không thuộc điều kiện này. Cũng cần nói thêm rằng điều luật không quy định loại trừ người được hưởng án treo. Điều 24 mục iv điểm i và phần trừ tại Điều 50 khoản 1 đều có quy định loại trừ rõ ràng, còn cách viết của Điều 24-3 điều kiện thứ ba thì khác. Tiền án của bạn có thuộc điều kiện này hay không phụ thuộc vào tội danh, điều luật được áp dụng và nội dung hình phạt, vì vậy hãy mang theo bản sao bản án hoặc lệnh xử lý rút gọn khi đến tư vấn.
Điều kiện thứ tư: từng bị trục xuất rồi thì sao?
Điều kiện thứ tư đòi hỏi trước đây người đó chưa từng bị cưỡng chế rời khỏi Nhật Bản và cũng chưa từng xuất cảnh theo lệnh xuất cảnh quy định tại Điều 55-85 khoản 1. Chỉ cần một lần bị trục xuất, hoặc một lần rời Nhật theo lệnh xuất cảnh, là điều kiện này không còn được thỏa mãn. Trên thực tế, có thể hiểu lệnh xuất cảnh là chế độ mỗi người chỉ dùng được một lần.
Điểm này gắn liền với thời hạn cấm nhập cảnh. Người đã từng bị trục xuất hoặc từng xuất cảnh theo lệnh xuất cảnh, nếu bị trục xuất lần nữa thì thời hạn cấm nhập cảnh là 10 năm kể từ ngày rời đi (Điều 5 khoản 1 mục ix điểm d). Ai đã từng rời Nhật một lần qua thủ tục nhập cư thì lần thứ hai càng phải chuẩn bị thận trọng hơn.
Điều kiện thứ năm: được dự liệu chắc chắn sẽ nhanh chóng xuất cảnh nghĩa là gì?
Điều kiện thứ năm đòi hỏi có thể dự liệu một cách chắc chắn rằng người đó sẽ nhanh chóng rời khỏi Nhật Bản. Bốn điều kiện trước đều nhìn về những sự việc đã xảy ra, còn điều kiện này là một phán đoán về tương lai. Do đó, vấn đề nằm ở chỗ có thể đưa ra những tài liệu cụ thể đến đâu để chống đỡ cho dự liệu đó.
Hộ chiếu còn hiệu lực hay không, đã lo được chi phí đi lại chưa, về nước rồi thì có nơi nương tựa và chỗ ở không, việc trả nhà thuê tại Nhật và bàn giao công việc đã tiến hành đến đâu. Những tình tiết này nên được trình bày bằng văn bản và tài liệu. Ngược lại, nếu hộ chiếu đã hết hạn hoặc trong tay không có giấy tờ chứng minh quan hệ nhân thân tại nước mình, việc thỏa mãn điều kiện này sẽ mất thời gian. Việc cấp lại hộ chiếu phải làm tại đại sứ quán hoặc lãnh sự quán nước mình tại Nhật, nên đây là việc cần bắt đầu trước khi đi trình diện.
Người muốn ở lại Nhật Bản có nên chọn lệnh xuất cảnh không?
Đây là chỗ dễ hiểu lầm nhất nên xin nói rõ: lệnh xuất cảnh là chế độ lấy việc rời khỏi Nhật Bản làm tiền đề. Với người có vợ hoặc chồng, con là người Nhật, hoặc đã xây dựng nền tảng cuộc sống lâu dài tại Nhật và mong muốn tiếp tục ở lại, lệnh xuất cảnh chưa chắc là lựa chọn tốt nhất. Trường hợp đó, thủ tục cần được xây dựng theo hướng xin giấy phép lưu trú đặc biệt (在留特別許可) theo Điều 50 Luật Nhập cư.
Về giấy phép lưu trú đặc biệt, chỉ người nước ngoài đã bị thu dung theo giấy lệnh thu dung, hoặc đã nhận quyết định áp dụng biện pháp giám sát (監理措置), mới có thể nộp đơn xin (Điều 50 khoản 2). Ngoài ra, sau khi lệnh trục xuất cưỡng chế đã được ban hành thì không thể nộp đơn nữa (Điều 50 khoản 3). Khi xem xét, cơ quan có thẩm quyền cân nhắc lý do mong muốn được lưu trú, quan hệ gia đình, nhân thân và hạnh kiểm, hoàn cảnh nhập cảnh Nhật Bản, thời gian đã lưu trú và địa vị pháp lý trong thời gian đó, sự việc cấu thành lý do trục xuất, nhu cầu cân nhắc về nhân đạo, đồng thời còn xét đến tình hình trong và ngoài nước cũng như ảnh hưởng đối với những người cư trú bất hợp pháp tại Nhật Bản và các tình tiết khác (Điều 50 khoản 5). Chọn lệnh xuất cảnh hay xin giấy phép lưu trú đặc biệt là quyết định rất khó quay đầu một khi thủ tục đã khởi động, nên phải quyết trước khi bước chân đến cơ quan nhập cư.
Ý nghĩa của việc chủ động hành động trước khi bị phát hiện
Hãy nhìn lại năm điều kiện. Hai trong số đó liên quan đến thời gian. Điều kiện thứ tư, tức việc chưa từng bị trục xuất hay xuất cảnh theo lệnh xuất cảnh, thì nay không thể thay đổi được nữa. Nhưng điều kiện thứ nhất thì vẫn phụ thuộc vào lựa chọn của ngày hôm nay. Tự ra trình diện trước khi điều tra vi phạm bắt đầu thì thuộc điểm a, và nếu xuất cảnh theo lệnh xuất cảnh thì thời hạn cấm nhập cảnh là 1 năm. Bày tỏ ý định sau khi điều tra đã bắt đầu thì chỉ thuộc điểm b, và sau này muốn nhập cảnh với tư cách lưu trú ngắn hạn thì là 5 năm. Còn nếu việc bị phát hiện dẫn đến thiếu điều kiện thứ hai hoặc thứ ba, thì lựa chọn lệnh xuất cảnh biến mất hoàn toàn, chỉ còn lại trục xuất cưỡng chế với 5 năm (Điều 5 khoản 1 mục ix điểm c) hoặc 10 năm (điểm d).
Tạo ra khoảng cách đó không phải năng lực, cũng không phải may rủi, mà chỉ là thời điểm hành động. Thêm vào đó, khi xin giấy phép lưu trú đặc biệt, Hướng dẫn về giấy phép lưu trú đặc biệt được sửa đổi tháng 3 năm Reiwa 6 và có hiệu lực từ ngày 10 tháng 6 cùng năm ghi rõ: việc người nước ngoài tự mình đến trình diện tại cơ quan quản lý xuất nhập cảnh và lưu trú địa phương để khai báo tình trạng cư trú bất hợp pháp được cân nhắc như một yếu tố tích cực. Ngược lại, tình trạng cư trú bất hợp pháp kéo dài bị đánh giá là yếu tố tiêu cực. Chế độ không được thiết kế theo hướng chờ đợi thì tình hình sẽ tốt lên.
Giới thiệu về văn phòng chúng tôi
Văn phòng Luật sư Quốc tế Funado đặt tại tầng 3, tòa nhà Fuse Building (khu chính), số 3-4-10 Takada, quận Toshima, Tokyo. Lĩnh vực trọng tâm của chúng tôi là bào chữa hình sự cho người nước ngoài và các thủ tục nhập cư, với phần lớn thân chủ mang quốc tịch Trung Quốc. Luật sư Matsumura Daisuke (thuộc Đoàn Luật sư Daiichi Tokyo) trực tiếp phụ trách toàn bộ các giai đoạn, từ lần tiếp xúc đầu tiên tại nơi tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa, không giao lại cho nhân viên văn phòng hay luật sư trẻ.
Về hỗ trợ ngôn ngữ, văn phòng có phiên dịch tiếng Trung chuyên trách thường trực, giàu kinh nghiệm với các vụ việc liên quan đến người nước ngoài. Đối với các ngôn ngữ khác, chúng tôi bố trí phiên dịch tùy theo yêu cầu của từng vụ việc. Việc có một phiên dịch làm việc vì thân chủ, tách biệt với phiên dịch do cơ quan điều tra chỉ định, có ý nghĩa rất lớn khi phải đối chiếu năm điều kiện nói trên với hoàn cảnh thật của bạn. Sau khi thủ tục hình sự và thủ tục nhập cư kết thúc, việc gia hạn hay thay đổi tư cách lưu trú được xử lý trọn gói cùng hành chính thư sĩ (行政書士) hợp tác với văn phòng.
Xin giới thiệu hai vụ việc. Thứ nhất, một thân chủ nhập cảnh với mục đích du lịch đã có con với một phụ nữ Nhật Bản, sau đó mất tư cách lưu trú và bị bắt, bị truy tố vì cư trú bất hợp pháp. Do thủ tục kết hôn và nhận cha con chưa hoàn tất, cơ quan chức năng ban đầu không tiếp nhận. Luật sư Matsumura đã đàm phán với cơ quan chức năng từ góc độ hiến pháp, hoàn tất được việc kết hôn và nhận cha con, thu thập chứng cứ có lợi trong hoàn cảnh hầu như không có giấy tờ công do nước mà thân chủ mang quốc tịch cấp, phân tích các tiền lệ cấp phép của cơ quan nhập cư, và giành được giấy phép lưu trú đặc biệt chỉ trong một lần thực hiện thủ tục.
Thứ hai, một phụ nữ bị quy kết oan về hành vi tiếp tay cho lao động bất hợp pháp và đứng trước nguy cơ bị trục xuất. Trước quan điểm thực tiễn lâu nay cho rằng căn cứ trục xuất không đòi hỏi lỗi cố ý hay vô ý, chúng tôi đã khởi kiện để đặt lại vấn đề về phạm vi của nguyên tắc trách nhiệm cá nhân và theo đuổi đến cấp phúc thẩm. Sau đó, cơ quan nhập cư đã chấp thuận cấp giấy phép lưu trú đặc biệt.
Buổi tư vấn đầu tiên miễn phí. Chi phí được báo giá tùy theo từng vụ việc.
Lời kết
Lệnh xuất cảnh chỉ được áp dụng khi thỏa mãn đồng thời cả năm điều kiện, và điều kiện thứ nhất vẫn nằm trong tầm quyết định của ngày hôm nay. Lựa chọn lớn hơn, là rời Nhật hay xin ở lại, cần được quyết định trước khi đi trình diện, bởi các phương án sẽ mất dần theo thời gian. Dù chọn con đường nào, điểm xuất phát vẫn là nắm chính xác hoàn cảnh của mình khi đối chiếu với câu chữ của điều luật.
Bài viết này là giải thích mang tính khái quát. Với vụ việc cụ thể, xin vui lòng trao đổi trực tiếp với luật sư. Các kết quả đã nêu dựa trên hoàn cảnh riêng của từng vụ việc và không bảo đảm sẽ có kết quả tương tự.
Tác giả
Matsumura Daisuke, Luật sư
Đoàn Luật sư Daiichi Tokyo (số đăng ký: 59077, đăng ký năm 2019)
Văn phòng Luật sư Quốc tế Funado (tầng 3, tòa nhà Fuse Building khu chính, 3-4-10 Takada, Toshima-ku, Tokyo)
Lĩnh vực trọng tâm: bào chữa hình sự cho người nước ngoài và thủ tục nhập cư, với phần lớn thân chủ mang quốc tịch Trung Quốc.
Kết quả đã đạt được bao gồm bản án tuyên vô tội trong vụ việc vi phạm Luật kiểm soát chất kích thích (tàng trữ nhằm mục đích thu lợi), quyết định không truy tố trong vụ lừa đảo có tổ chức, và việc giành được giấy phép lưu trú đặc biệt trong vụ việc được xem là khó.
Liên hệ
Văn phòng Luật sư Quốc tế Funado
Website: https://matsumura-lawoffice.jp/
WeChat ID: matsumura1119
Các phiên bản ngôn ngữ khác của bài viết này
----------------------------------------------------------------------
舟渡国際法律事務所
住所 : 東京都豊島区高田3丁目4-10布施ビル本館3階
電話番号 :050-7587-4639
東京を中心に刑事事件の弁護
----------------------------------------------------------------------