Con sinh ra tại Nhật khi cha mẹ cư trú quá hạn: tư cách lưu trú, việc học và phép lưu trú đặc biệt
2026/08/27
Một trong những câu hỏi mà các gia đình đang cư trú quá hạn (lưu trú bất hợp pháp) tại Nhật Bản hỏi chúng tôi nhiều nhất lại không phải về bản thân họ, mà về con cái. Cháu bé sinh ra ở Nhật, lớn lên bằng tiếng Nhật, đi học ở trường trong khu phố, nhưng không có thẻ cư trú. Mỗi lần lên lớp, mỗi lần nói đến chuyện học tiếp, nỗi lo lại lớn thêm. Nhiều bậc cha mẹ nói rằng họ lo cho tương lai của con hơn là lo cho tình trạng lưu trú của chính mình. Bài viết này trình bày, theo đúng các điều khoản của Luật Quản lý xuất nhập cảnh và công nhận tị nạn (Luật Nhập quản, 出入国管理及び難民認定法), vị trí pháp lý của đứa trẻ sinh ra trong một gia đình cư trú quá hạn, và những thời điểm mà gia đình vẫn còn có thể lựa chọn.
Trẻ sinh ra tại Nhật Bản có đương nhiên có quốc tịch Nhật Bản không
Không. Chỉ riêng việc sinh ra trên đất Nhật không đương nhiên mang lại quốc tịch Nhật Bản. Cách xác định quốc tịch của Nhật Bản dựa trên quốc tịch của cha mẹ chứ không dựa trên nơi sinh. Vì vậy, nếu cả cha và mẹ đều là người nước ngoài thì đứa trẻ sinh ra tại Nhật cũng được xử lý như trẻ mang quốc tịch nước ngoài. Tuy nhiên, kết luận có thể khác đi trong những trường hợp như cha là người Nhật và thủ tục nhận cha con (認知) hoặc kết hôn đã hoàn tất. Đây là phần phụ thuộc rất nhiều vào từng hoàn cảnh cụ thể, xin đừng phán đoán theo cảm tính mà nên xác nhận sớm.
Cha mẹ cư trú quá hạn thì con sinh ra có tư cách lưu trú không
Đối với trẻ sinh ra tại Nhật, gia đình phải làm thủ tục xin tư cách lưu trú (在留資格) trong một khoảng thời gian nhất định sau khi sinh. Nếu tiếp tục sinh sống mà không làm thủ tục đó, chính đứa trẻ cũng rơi vào tình trạng không có tư cách lưu trú và, về mặt pháp lý, bị đặt vào vị trí có thể trở thành đối tượng bị trục xuất (退去強制). Nói cách khác, tình trạng lưu trú của cha mẹ được phản ánh trực tiếp lên địa vị pháp lý của con.
Về phía cha mẹ, việc ở lại Nhật quá thời hạn lưu trú được phép là căn cứ trục xuất theo Điều 24 khoản 4 mục (b) của Luật Nhập quản, đồng thời cấu thành tội lưu trú bất hợp pháp theo Điều 70 khoản 1 mục (v). Đứa trẻ không hề tự chọn tình trạng này. Nhưng theo cấu trúc của pháp luật, cả gia đình đều bị đặt vào tình trạng không có tư cách lưu trú.
Trẻ không có tư cách lưu trú có được đi học không
Trên thực tế, các trường tiểu học và trung học cơ sở tại địa phương rộng rãi tiếp nhận trẻ trong độ tuổi giáo dục bắt buộc, không phân biệt có hay không có tư cách lưu trú, và nhiều em lớn lên với tiếng Nhật là ngôn ngữ thứ nhất. Khó khăn nằm ở chỗ khác: việc tham gia bảo hiểm y tế và sử dụng các dịch vụ hành chính phụ thuộc vào từng chế độ và cách vận hành của từng chính quyền địa phương, nên có những trường hợp không thể tham gia hoặc không thể sử dụng. Đến khi lên trung học phổ thông, rồi học lên cao hơn hoặc đi làm, việc không có tư cách lưu trú trở thành rào cản cụ thể, và con càng lớn thì vấn đề càng không thể trì hoãn.
Việc có con được xem xét thế nào khi xét cho phép lưu trú đặc biệt
Điều 50 khoản 1 Luật Nhập quản quy định rằng ngay cả khi một người thuộc diện bị trục xuất, Bộ trưởng Bộ Tư pháp vẫn có thể cho phép lưu trú đặc biệt (在留特別許可), theo đơn của người nước ngoài đó hoặc theo thẩm quyền. Phần lớn các vụ việc cư trú quá hạn được xử lý theo mục (v) của khoản này, tức trường hợp Bộ trưởng nhận thấy có tình tiết khác đáng để đặc biệt cho phép lưu trú.
Khoản 5 của điều luật này đã ghi rõ những yếu tố phải cân nhắc: lý do mong muốn được lưu trú, quan hệ gia đình, hạnh kiểm, hoàn cảnh nhập cảnh vào Nhật Bản, thời gian đã lưu trú tại Nhật, địa vị pháp lý trong thời gian đó, sự việc trở thành lý do trục xuất, sự cần thiết của cân nhắc nhân đạo; ngoài ra còn cân nhắc tình hình trong và ngoài nước, ảnh hưởng đối với người cư trú bất hợp pháp tại Nhật Bản và các tình tiết khác. Việc "quan hệ gia đình" và "sự cần thiết của cân nhắc nhân đạo" được ghi thẳng trong điều luật là điểm quan trọng. Tuổi của con, số năm sinh ra và lớn lên tại Nhật, trình độ tiếng Nhật, tình hình học tập, việc con đã từng sống ở nước mang quốc tịch hay chưa, và việc học hành cùng đời sống sẽ tiếp tục ra sao nếu về nước, đều là những điều cần lập luận cụ thể trong hai yếu tố nói trên.
Tuy vậy, Hướng dẫn về cho phép lưu trú đặc biệt (sửa đổi tháng 3 năm 2024, có hiệu lực từ ngày 10 tháng 6 năm 2024) xác định việc cho phép lưu trú đặc biệt là "biện pháp mang tính ngoại lệ và ân huệ đối với người nước ngoài lẽ ra phải bị buộc rời khỏi Nhật Bản". Việc có con, tự nó, không dẫn đến kết quả được cho phép. Hướng dẫn đánh giá việc cư trú bất hợp pháp kéo dài là yếu tố tiêu cực, đồng thời ghi rõ rằng việc tự mình đến cơ quan quản lý xuất nhập cảnh và lưu trú địa phương để khai báo tình trạng cư trú bất hợp pháp được xem xét như một yếu tố tích cực.
Cha mẹ bị xử lý hình sự thì có ảnh hưởng đến việc lưu trú của con không
Có ảnh hưởng. Nhưng mức độ nặng nhẹ của xử lý hình sự và việc gia đình có được tiếp tục ở lại Nhật hay không là hai vấn đề vận hành riêng biệt.
Hình phạt luật định của tội lưu trú bất hợp pháp, theo phần dẫn của Điều 70 khoản 1, là kōkinkei (hình phạt giam giữ, 拘禁刑) đến 3 năm hoặc phạt tiền đến 3.000.000 yên, hoặc áp dụng cả hai. Ngay cả khi tòa hình sự cho hưởng án treo toàn bộ hình phạt, thủ tục trục xuất cũng không vì thế mà dừng lại. Điều 24 khoản 4 mục (i) coi người bị tuyên kōkinkei chung thân hoặc trên 1 năm là đối tượng trục xuất, đồng thời loại trừ người được hưởng án treo toàn bộ; nhưng bản thân việc lưu trú bất hợp pháp đã là căn cứ trục xuất theo Điều 24 khoản 4 mục (b). Vì vậy, suy nghĩ "được án treo rồi nên việc ở lại không sao" là sai.
Ngược lại, nếu bị tuyên kōkinkei giam giữ thực tế trên 1 năm thì phần trừ của Điều 50 khoản 1 sẽ được áp dụng: chỉ được cho phép khi nhận thấy có tình tiết đặc biệt đến mức việc không cho lưu trú tại Nhật Bản là thiếu cân nhắc nhân đạo. Vụ việc chỉ có lưu trú bất hợp pháp (Điều 24 khoản 4 mục (b)) không thuộc phạm vi của phần trừ này. Đây là tiền đề có lợi cho gia đình, nhưng xử lý hình sự càng nặng thì tiền đề đó càng mất đi. Chính vì vậy, công việc làm nhẹ xử lý hình sự và công việc xin phép lưu trú đặc biệt phải được thiết kế chung ngay từ bước đầu tiên.
Khi nào có thể nộp đơn xin phép lưu trú đặc biệt
Điều 50 khoản 2 quy định rằng đơn xin phép lưu trú đặc biệt do người nước ngoài đã bị giam giữ theo lệnh giam giữ, hoặc người đã nhận quyết định áp dụng biện pháp giám sát, nộp lên Bộ trưởng Bộ Tư pháp theo thủ tục do quy định của Bộ Tư pháp ấn định. Nghĩa là chỉ từ giai đoạn này sự việc mới mang hình thức "đơn"; trước đó là hoạt động đề nghị cơ quan có thẩm quyền tự mình xem xét. Khoản 3 của điều này quy định không thể nộp đơn sau khi lệnh trục xuất đã được ban hành. Trình tự thủ tục đi từ điều tra vi phạm, đến lệnh giam giữ hoặc quyết định biện pháp giám sát, thẩm tra vi phạm và nhận định theo Điều 47 khoản 3, xét hỏi bằng lời và phán định theo Điều 48 khoản 8, rồi khiếu nại lên Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Việc cho phép lưu trú đặc biệt được xem xét sau khi đương sự chấp nhận nhận định, phán định, hoặc sau khi khiếu nại bị kết luận là không có căn cứ (Điều 50 khoản 4). Một khi lệnh trục xuất đã ban hành, con đường còn lại là tư pháp: kiện hủy quyết định và yêu cầu hoãn thi hành. Khi ra quyết định không cho phép lưu trú đặc biệt, cơ quan phải nhanh chóng thông báo bằng văn bản có nêu lý do (Điều 50 khoản 10).
Chủ động trình diện trước khi bị phát hiện có ý nghĩa gì
Các gia đình có con nhỏ thường để thời gian trôi đi vì sợ rằng hễ động đến thủ tục là bị giam giữ. Nhưng pháp luật dành những kết quả khác hẳn nhau cho người tự trình diện và người bị phát hiện, bắt giữ.
Chế độ lệnh xuất cảnh theo Điều 24-3 áp dụng cho người nước ngoài thuộc Điều 24 mục (ii)-4, mục (iv)(b), hoặc các mục (vi) đến (vii), và đồng thời thỏa mãn đủ năm điều kiện: (1) tự mình đến cơ quan quản lý xuất nhập cảnh và lưu trú với ý định rời Nhật Bản ngay, trước khi cuộc điều tra vi phạm theo Điều 27 bắt đầu (mục (i)(a)), hoặc bày tỏ ý định rời Nhật Bản ngay sau khi điều tra đã bắt đầu nhưng trước khi nhận thông báo theo Điều 47 khoản 3 (mục (i)(b)); (2) không thuộc Điều 24 các mục (iii) đến (iii)-5, mục (iv)(c) đến (iv)(yo), mục (viii) hoặc mục (ix); (3) sau khi nhập cảnh, chưa bị tuyên kōkinkei về các tội mà điều luật liệt kê, như xâm nhập chỗ ở, làm giả tiền tệ, tài liệu, giấy tờ có giá, đánh bạc, giết người, cố ý gây thương tích, bắt giữ giam người trái pháp luật, bắt cóc, trộm cắp và cướp, lừa đảo và cưỡng đoạt, cùng một số tội theo các luật chuyên ngành; (4) chưa từng bị trục xuất khỏi Nhật Bản và chưa từng xuất cảnh theo lệnh xuất cảnh; (5) được dự kiến chắc chắn sẽ rời Nhật Bản ngay. Khi lệnh xuất cảnh được ban hành, thẩm tra viên chủ nhiệm ấn định thời hạn xuất cảnh không quá 15 ngày (Điều 55-85 khoản 1).
Khác biệt thể hiện rõ ở khả năng quay lại Nhật Bản. Người tự trình diện trước khi cuộc điều tra vi phạm bắt đầu và xuất cảnh theo lệnh xuất cảnh bị từ chối nhập cảnh trong 1 năm kể từ ngày xuất cảnh (Điều 5 khoản 1 mục (ix)(e)). Ngược lại, người chỉ bày tỏ ý định xuất cảnh sau khi điều tra đã bắt đầu (Điều 24-3 mục (i)(b)) sẽ chịu thời hạn 5 năm nếu sau đó muốn đến Nhật với hoạt động thuộc tư cách lưu trú ngắn hạn (Điều 5 khoản 1 mục (ix)(f)). Nếu vì bị phát hiện mà không đủ điều kiện của lệnh xuất cảnh và bị trục xuất, thời hạn là 5 năm kể từ ngày rời Nhật (mục (ix)(c)), hoặc 10 năm nếu trước đó đã từng bị trục xuất hay đã từng xuất cảnh theo lệnh xuất cảnh (mục (ix)(d)).
Đặt cạnh việc học của con, khoảng cách vài năm đó liên quan trực tiếp đến kế hoạch cuộc đời của cả gia đình. Dù mục tiêu là tiếp tục ở lại Nhật hay là xuất cảnh một lần rồi quay lại bằng tư cách lưu trú hợp lệ, phạm vi lựa chọn rộng nhất luôn nằm ở thời điểm trước khi cuộc điều tra vi phạm bắt đầu.
Về văn phòng chúng tôi
Văn phòng Luật sư Quốc tế Funado (Tòa nhà Fuse, tòa chính tầng 3, 3-4-10 Takada, Toshima-ku, Tokyo) tập trung vào bào chữa hình sự cho người nước ngoài và các thủ tục nhập quản, chủ yếu cho thân chủ mang quốc tịch Trung Quốc. Luật sư Matsumura Daisuke thuộc Đoàn Luật sư Dai-Ichi Tokyo (số đăng ký 59077, đăng ký năm 2019). Xin giới thiệu hai vụ việc liên quan đến gia đình.
Vụ D-1: đạt được phép lưu trú đặc biệt vốn được coi là rất khó, chỉ trong một lần thủ tục. Thân chủ nhập cảnh với mục đích du lịch và có con với một phụ nữ Nhật Bản, nhưng đã mất tư cách lưu trú và bị bắt, bị truy tố vì cư trú bất hợp pháp. Thủ tục kết hôn và nhận cha con chưa hoàn tất nên cơ quan chức năng ban đầu không tiếp nhận. Luật sư Matsumura đã thương lượng từ góc độ hiến pháp và thực hiện được cả hai thủ tục, sau đó tiến hành hỏi bị cáo và hỏi người làm chứng với ý thức rõ về phiên tòa hình sự. Dù hầu như không có giấy tờ công do nước mang quốc tịch cấp, vẫn thu thập được chứng cứ có lợi và phân tích các trường hợp đã được cấp phép trước đây, và phép lưu trú đặc biệt đã được cấp chỉ sau một lần thủ tục.
Vụ D-2: cứu một phụ nữ đứng trước nguy cơ bị trục xuất. Bà bị quy kết oan về tội tiếp tay cho lao động bất hợp pháp và đứng trước nguy cơ bị buộc rời khỏi Nhật Bản. Đối lại thực tiễn lâu nay cho rằng căn cứ trục xuất không đòi hỏi cố ý hay vô ý, vụ kiện đã được khởi xướng để đặt câu hỏi về phạm vi của nguyên tắc lỗi, và được theo đuổi đến cấp phúc thẩm. Sau đó, cơ quan nhập quản đã chấp thuận cho phép lưu trú đặc biệt.
Về cách làm việc: từ buổi thăm gặp đầu tiên cho đến khi kết thúc tranh tụng tại phiên tòa, luật sư Matsumura trực tiếp phụ trách toàn bộ, không giao cho nhân viên văn phòng hay luật sư trẻ làm thay. Văn phòng có phiên dịch tiếng Trung chuyên trách thường trực, am hiểu các vụ việc liên quan đến người nước ngoài, nên thân chủ có thể sử dụng phiên dịch đứng về phía mình, khác với phiên dịch do cơ quan điều tra chỉ định; đối với các ngôn ngữ khác, chúng tôi bố trí phiên dịch tùy theo từng vụ việc. Sau khi thủ tục hình sự kết thúc, việc gia hạn hay thay đổi tư cách lưu trú được xử lý trọn gói cùng hành chính thư sĩ hợp tác. Tư vấn lần đầu miễn phí, chi phí được báo giá theo từng vụ việc.
Lời kết
Vấn đề lưu trú của trẻ càng để lâu thì lựa chọn càng hẹp. Trong lúc việc học ở trường vẫn tiếp diễn thì vấn đề chưa lộ ra, nhưng đến lúc học lên hay đi làm thì rào cản xuất hiện cùng một lúc. Dù gia đình chọn con đường nào, thời điểm trước khi cuộc điều tra vi phạm bắt đầu, và trước khi lệnh trục xuất được ban hành, đều mang ý nghĩa pháp lý rất lớn.
Bài viết này là giải thích chung. Với hoàn cảnh cụ thể của mình, xin quý vị trực tiếp trao đổi với luật sư. Các vụ việc đã giải quyết nêu trên dựa trên tình tiết riêng của từng vụ và không bảo đảm sẽ có kết quả tương tự.
Người viết
Matsumura Daisuke, Luật sư
Đoàn Luật sư Dai-Ichi Tokyo (số đăng ký: 59077 / đăng ký năm 2019)
Văn phòng Luật sư Quốc tế Funado (Tòa nhà Fuse, tòa chính tầng 3, 3-4-10 Takada, Toshima-ku, Tokyo)
Tập trung vào bào chữa hình sự cho người nước ngoài và thủ tục nhập quản, chủ yếu cho thân chủ mang quốc tịch Trung Quốc.
Đã đạt được bản án vô tội trong vụ vi phạm Luật kiểm soát chất kích thích (tàng trữ nhằm mục đích sinh lợi), quyết định không truy tố trong vụ lừa đảo đặc biệt, và giành được phép lưu trú đặc biệt trong vụ việc được coi là rất khó.
Liên hệ
Văn phòng Luật sư Quốc tế Funado
Website: https://matsumura-lawoffice.jp/
WeChat ID: matsumura1119
Các phiên bản ngôn ngữ khác của bài viết này
----------------------------------------------------------------------
舟渡国際法律事務所
住所 : 東京都豊島区高田3丁目4-10布施ビル本館3階
電話番号 :050-7587-4639
東京を中心に刑事事件の弁護
----------------------------------------------------------------------